CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .
ĐỂ VÀO DIỂN ĐÀN TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC , BẠN CẦN ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY .
CHÚC BẠN AN KHANG THỊNH VƯỢNG VÀ TINH TẤN TRÊN CON ĐƯỜNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC ........
TRUNG TÂM HUYỀN BÍ HỌC ĐÔNG TÂY

CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .

Cùng tìm tòi, nghiên cứu, chia sẻ, thảo luận và thực hành các kỷ năng, kiến thức tâm linh để tạo hạnh phúc cho bản thân và tha nhân ..........
 
Trang ChínhPortalCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Bản Ngã và năng lượng
Sun Nov 19, 2017 9:05 pm by lyquochoang

» Góc chia sẻ
Thu Nov 09, 2017 6:26 pm by Phạm Hoa

» 10 Túc Duyên của Phật
Thu Nov 02, 2017 11:51 pm by lyquochoang

» NÊN DÙNG LOẠI HƯƠNG GÌ
Mon Oct 30, 2017 9:41 pm by huyền hoàng

» Hiểu thế nào về “huyền bí học”
Thu Oct 26, 2017 1:53 am by quangbongdem

» THẦN LINH HỌC
Thu Oct 26, 2017 1:52 am by quangbongdem

» Khuyên Người Niệm Phật
Wed Oct 25, 2017 10:12 pm by lyquochoang

» Hào Quang
Fri Oct 06, 2017 2:03 am by lyquochoang

» Hạnh Phúc
Thu Oct 05, 2017 4:01 am by lyquochoang

Navigation
 Portal
 Diễn Đàn
 Thành viên
 Lý lịch
 Trợ giúp
 Tìm kiếm
Diễn Đàn
Affiliates
free forum


Share | 
 

 THẦN LINH HỌC và THÔNG THIÊN HỌC

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: THẦN LINH HỌC và THÔNG THIÊN HỌC   Sun Jul 18, 2010 10:51 pm

THẦN LINH HỌC và THÔNG THIÊN HỌC

Thuyết trình trước diễn đàn của Viện Phục vụ Liên bang Ấn Độ tại Simla
Ngày 7 tháng 10 năm 1880.
Nhà Xuất bản Thông Thiên Học, Adyar, Chennai (Madras), Ấn Độ.

Cách đây 13 năm, một trong những thẩm phán lỗi lạc nhất của nước Mỹ hiện đại – John W. Edmonds, Chánh thẩm Tòa Tối cao New York – có tuyên bố trong một tạp chí ở Luân đôn rằng vào lúc bấy giờ ở nước Mỹ có ít ra là 10 triệu nhà Thần linh học. Lúc bấy giờ không ai có đủ tư cách hơn ông để nêu ý kiến về đề tài này, vì chẳng những ông có liên lạc thư tín với mọi người ở khắp nơi trong xứ ấy, mà vì đức tính cao cả của con người cùng với học thức, lòng vô tư về luật pháp và tính bảo thủ của ông đã khiến ông trở thành một nhân chứng có thẩm quyền nhất và đầy sức thuyết phục nhất. Còn một người có thẩm quyền khác nữa, một nhà tuyên truyền nổi tiếng cả trong giới công luận lẫn tư luận không có tì vết, Đức Ông Robert Dale Owen, trong khi ủng hộ ước tính của Thẩm phán Edmonds, đã nói thêm rằng ít ra trong giới Ki Tô giáo còn lại cũng có một số người tương đương như thế. [Vùng đất còn Tranh chấp giữa Thế giới này và Thế giới bên kia, trang 174, ấn bản Luân đôn, năm 1874]. Tuy nhiên để tránh mọi nguy cơ thổi phồng sự thật, ta chỉ suy diễn một phần tư của mỗi bên rồi cộng lại thì (đến năm 1874), tổng số người được gọi là nhà Thần linh học đã lên tới 15 triệu người. Nhưng dù có bao nhiêu người được qui cho là tin vào sự giao tiếp công khai hiện nay giữa thế giới vật chất của ta với thế giới u hồn thì vẫn có một sự thật mà ai cũng biết là trong số đó có một số trí thức sắc xảo nhất thời nay. Bây giờ không còn là vấn đề của những kẻ quê mùa và những cô thôn nữ nô tì ưa động kinh lừa gạt mình. Những kẻ nào chối bỏ sự thật của những hiện tượng đương đại này ắt phải đối đầu với đông đảo những nhà khoa học tài ba nhất đã từng dốc hết sức lực chuyên nghiệp của mình để xác định bản chất của lực đang tác động để rồi bâng khuâng đi tìm bất cứ lời giải thích nào khác hơn là một loại tác nhân siêu mộ phần nào đó. Bắt đầu từ Robert Hare (người phát minh ra ống thổi Hydro Oxy) cho tới Nestor của ngành Hóa học nước Mỹ và cuối cùng là Fr. Zollner, Giáo sư Vật lý Thiên văn ở Đại học Leipzig, danh sách những nhà thực nghiệm đã cải giáo này bao gồm một loạt các chuyên gia về Khoa học Vật lý thuộc hạng chuyên nghiệp nhất. Có lẽ ngoại trừ Zollner – ông muốn kiểm chứng lại thuyết của mình về chiều đo thứ tư trong không gian – mỗi nhà khoa học đều bắt đầu nhiệm vụ khảo cứu với mục đích rành rành là lật tẩy điều bị nghi là lường gạt để phục vụ lợi ích đạo đức của công chúng; thế mà mỗi người lại bị biến thành một kẻ rõ ràng tin vào sự thật về các hiện tượng đồng cốt do cái luận lý không thể cưỡng lại được của sự thật.
Những nhà khoa học này đã phát minh ra những dụng cụ tinh xảo bậc nhất để trắc nghiệm quyền năng của giới đồng cốt. Các khí cụ ấy thuộc bốn loại (a) – máy móc để xác định xem liệu có một dòng từ hoặc điện nào đang tác động hay chăng, (b) – liệu chuyển động của những đồ vật nặng (chẳng hạn như những cái bàn) do người đồng cốt chạm vào có do sự co cơ hữu ý hoặc vô ý hay chăng, (c) – liệu một người tham gia buổi lên đồng có thể giao tiếp một cách thông minh hay chăng trong những tình huống đã phòng ngừa được bất kỳ mánh khóe có thể nào của người đồng cốt, (d) – đâu là điều kiện để biểu hiện cái dạng năng lượng mới và giới hạn cực độ của các tác động của nó. Dĩ nhiên trong một bài thuyết trình kéo dài một tiếng đồng hồ tôi chẳng thể miêu tả tới 1/10 của các máy móc ấy, nhưng tôi xin đưa ra hai thứ máy để minh họa cho hai ngành khảo cứu nêu trên. Máy thứ nhất được miêu tả trong tác phẩm của giáo sư Hare. Người đồng cốt và người điều tra ngồi đối diện với nhau, tay người đồng cốt được đặt lên trên một tấm bảng được treo lủng lẳng và điều chỉnh sao cho dù y có ấn lên cái bảng hay không thì y cũng chỉ làm di động được cái bảng chứ không còn gì khác nữa. Trước mặt người tham quan là một mặt đồng hồ chung quanh đó có bố trí các chữ cái trong bộ mẫu tự, 10 con số, những từ “có”, “không”, “chưa chắc” và có lẽ một số từ khác. Một cái kim chỉ gắn liền với một đòn bẫy, đầu kia của đòn bẫy được bố trí sao cho nó tiếp nhận bất cứ dòng lực nào chạy xuyên qua hệ thống của người đồng cốt nhưng không chịu ảnh hưởng bất kỳ áp lực cơ học nào mà y có thể tác động lên điểm tựa để kê cái kim chỉ, qua đó chạy vòng vòng trên mặt đồng hồ chỉ vào một chữ cái hoặc các từ mà sinh linh thông tuệ đang giao tiếp muốn viết ra. Vì mặt sau của mặt đồng hồ hướng về người đồng cốt cho nên dĩ nhiên y không thể nhìn thấy kim chỉ đang chỉ vào đâu và nếu người điều tra giấu nhẹm không cho y thấy tờ giấy ghi tốc ký lại buổi giao tiếp thì thậm chí y cũng chẳng phỏng đoán được người ta nói chuyện ra sao.
Một khí cụ khác được miêu tả và minh họa trong sách chuyên môn mang tựa đề Khảo cứu về Hiện tượng Thần linh học của ông William Crookes, hội viên Hội Hoàng gia, Tổng biên tập tạp chí Khoa học Tam cá nguyệt và là một trong những nhà hóa học thực nghiệm thành công nhất đương thời. Một tấm bảng bằng gỗ gụ, dài 36 phân Anh, rộng 9,5 phân Anh và dày một phân Anh, tựa một đầu trên cái bàn, bên trên một dải giấy cắt bằng mép dao; đầu bên kia của nó được treo vào một cái cân lò xo được cải tiến dùng làm dụng cụ ghi đo tự động, treo lơ lửng từ một cái kiềng ba chân vững chắc. Trên mép bàn của cái bảng ấy, ngay bên trên điểm tựa có đặt một cái bình lớn chứa đầy nước. Một lọ bằng đồng nhúng chìm trong nước tới độ sâu 1,5 phân Anh tính từ mặt nước, đáy bình bằng đồng được đục lỗ để cho nước tràn vào; bình bằng đồng này được đỡ bằng một vành đai sắt cố định hàn cứng vào một cái đế bằng sắt vững chãi trên nền nhà. Người đồng cốt phải nhúng tay vào nước ở bên trong bình bằng đồng, và vì bình bằng đồng được nâng đỡ vững chắc bằng cái đế và vành đai của chính nó chứ không đụng chạm gì tới cái bình bằng thủy tinh chứa nước, cho nên ta thấy rằng nếu có xảy ra một sự đè lên kim chỉ của cái cân lò xo ở đầu bên kia của tấm bảng, thì điều này dứt khoát cho thấy rằng có dòng lực (cân được tính bằng cân Anh nhân với lại bộ Anh), lực ấy đang chạy xuyên qua cơ thể của người đồng cốt. Thật vậy, cả Tiến sĩ Hare với khí cụ của ông lẫn ông Crookes với máy móc của mình đều đạt được mục đích như mong muốn chứng tỏ rằng một vài hiện tượng đồng cốt có xảy ra mà không có sự can thiệp, dù là trung thực hay không trung thực của người đồng cốt. Dựa trên lời gợi ý của ông Serjeant Cox đã quá cố, ông Crookes đặt tên cho cái năng lượng được biểu lộ ấy một cái tên thỏa đáng là Lực Tâm linh, cho nên từ đây về sau trong bài thuyết trình này tôi cũng xin gọi nó như thế.
Tôi đề cập tới hai loại máy móc này chỉ để cho những người có lẽ chưa bao giờ điều tra về vấn đề này, đừng có sa vào cái lỗi lầm thông thường nghĩ rằng các hiện tượng lạ toàn là chuyện lừa gạt bởi vì các nhà khoa học khôn khéo nhất đã cực kỳ cẩn thận phòng ngừa khả năng bị lừa bịp trong quá trình thí nghiệm. Nếu có một sự kiện mà khoa học đã chứng minh được là có một loại lực nào đó mới lạ và rất bí hiểm đã từng biểu lộ từ tháng 3 năm 1848, khi cái trò hiển thánh hiện đại này đã bộc lộ ra với một loạt những cú gõ ở một thôn hẻo lánh tại Tiểu bang New York. Bắt đầu bằng những âm thanh phản kích này, từ đó trở đi nó đã phô trương năng lượng của mình qua hàng trăm hiện tượng lạ khác mà bất kỳ giả thuyết đã biết nào của khoa học đều không giải thích được và các hiện tượng ấy xảy ra hầu hết (nếu không phải là hoàn toàn) ở mọi xứ trên quả địa cầu. Để dễ dàng cho việc nghiên cứu nó, phô diễn các định luật của nó, phổ biến những biểu lộ thông minh của nó, cứ chốc một lại có hàng trăm tạp chí và quyển sách được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng khác nhau; phong trào này có những trường phái và giáo hội, những phòng hội họp, những người thuyết giảng và giảng dạy, một đoàn thể gồm những người nam và nữ ít ra lên tới hàng ngàn người đang dồn hết thời giờ và sức sống cho cái nghề đồng cốt. Đi đến đâu ta cũng đụng phải những người đồng cốt hay “thông linh” này, ở các cung điện của hoàng gia cũng như trong mái lá của người nông dân, đều thấy có những năng khiếu đồng cốt hoặc thông linh đa dạng chẳng khác nào cá tính của họ.
Điều gì đã gây ra một sự lan tràn trên khắp thế giới của phong trào mới này làm cho công chúng phải tốn khá nhiều tiện nghi, thời giờ, tiền bạc và gây ra hậu quả xã hội rộng lớn như thế? Điều gì đã thôi thúc biết bao nhiêu người thông minh nhất thuộc mọi xứ sở, mọi giáo phái và mọi dân tộc tiếp tục khảo cứu như thế? Điều gì đã giữ cho sống động mãi đức tin của biết bao triệu người, bất chấp vô số những sự lật tẩy ngao ngán về trò xỏ lá của đám đồng cốt, về khuynh hướng vô luân của nghề đồng cốt không ai kiểm soát cũng như nói chung là các cuộc giao tiếp mà ta nhận được đều mang tính ấu trĩ và thường xuyên tạc bịa đặt? Đó là vì trong lòng người đã dâng lên một niềm hi vọng cuối cùng người ta cũng có được bằng chứng thực nghiệm về việc sống sót sau khi cái xác đã chết và thoáng nhìn được (nếu không phải là khải huyền trọn vẹn được) số phận tương lai của mình. Giống như người chết đuối vớ được cọc, tất cả hàng triệu người này đều bám lấy một hi vọng duy nhất là giờ đây vấn đề xưa như trái đất “con người là cái gì, từ đâu đến rồi đi về đâu” sẽ được giải quyết một lần cho dứt khoát. Chỉ cần liếc nhìn qua kho tài liệu của Thần linh học là ta ắt thấy niềm vui, niềm an ủi và sự an dưỡng đời đời đang khích lệ cho những hiện tượng quái đản thường hay làm điên tiết người ta trong buổi lên đồng. Nước mắt đã ngừng chảy từ hàng tỉ đôi mắt khi người thân đã quá cố phải tử biệt, chuyện sinh ly giữa những người yêu thương nhau và bạn bè chí cốt của nhau không còn bị những tín đồ này coi là chuyện mãi mãi nữa. Cơn bão tố không còn làm ai sợ sệt, những cuộc khủng bố trên chiến trường và dịch bệnh đã mất đi quyền lực ghê gớm nhất đối với nhà Thần linh học thời nay. Việc giả định rằng có thể giao tiếp được với người chết cùng với thông điệp của người chết đã làm xói mòn thẩm quyền không thể sai lầm của thần học theo giáo điều. Nhà Thần linh học nhắm vào tín ngưỡng mới giờ đây lờ mờ thấy được những nét phác họa của một Thế giới Trường hạ nơi chúng ta sinh hoạt bận bịu chẳng kém gì trên Trần thế. Thay vì dường như là cái miệng há hốc ra nuốt chửng vào một cõi hư vô u ám thì ngôi mộ phần đâm ra chỉ có vẻ là ngưỡng cửa u linh đưa tới một xứ sở với ánh sáng thanh thiên bạch nhật không ngừng tiến bước về trạng thái tột đỉnh có thể toàn bích được. Không đâu, những nét phác họa hoang tưởng của Thế giới Trường hạ này đã trở nên xác định đến nỗi người ta thường đọc thấy chuyện trong thế giới vong linh, con nít lớn lên thành người lớn, có cả những trường đại học và hàn lâm viện để hướng dẫn kẻ phàm phu mà chủ trì là các nhà hiền triết trên thế giới đã quá cố; thậm chí có những cuộc hôn nhân giữa những người nam nữ còn sống sờ sờ với đám công dân của thế giới vong hồn! Một trường hợp điển hình là Đức Ông Thomas Lake Harris – người sáng lập ra Công đồng xã hội chủ nghĩa ở Hồ Erie mà Laurence Oliphant và mẹ ông đã gia nhập – công bố rằng ông kết hôn môn đương hộ đối với một vong linh nữ và một đứa trẻ con đã ban phước cho cuộc hôn nhân ấy! Còn một trường hợp khác là cuộc hôn nhân của hai vong linh trước sự hiện diện của các nhân chứng còn sống, do một tu sĩ còn sống làm phép; chuyện này được tường trình năm ngoái trong những tờ báo của phong trào Thần linh học: một ông tên là Pierce, con của một vị cựu Tổng thống Mỹ và đã chết từ lâu rồi, nghe đâu “hiện hình” ra (nghĩa là tạo ra cho mình một hình dáng trông thấy được và sờ thấy được) ở nhà một người đồng cốt Mỹ nào đó; một giáo sĩ được triệu thỉnh tới trong dịp này đã làm phép kết hôn ông ta cho một vong hồn phụ nữ chết yểu lúc mới tròn 7 tháng nhưng giờ đây đã lớn bổng lên trổ mã thành một thiếu nữ xuân thì và cũng hiện hình ra trong lễ cưới! Hai bên trao đổi lời thệ nguyện và tiếp nhận bí tích hôn nhân, tân lang và tân giai nhân ngồi vào bàn vui vầy với bạn bè được mời tới; sau khi uống cạn một hai chén rượu mừng, cả hai biến mất thành mây khói, kể cả xiêm y, găng tay trắng, vải sa tanh, đăng ten và đủ mọi thứ khác! Ắt hẳn quí vị gọi đây là chuyện vớ vẩn của Thần linh học và quí vị đúng thôi; tuy nhiên điều này cho thấy rõ ràng rành rành rằng nếu không muốn nói là duy vật thô thiển thì cái quan điểm của trật tự thế giới bên kia cửa tử đã thay thế cho nỗi niềm lo sợ mơ hồ xưa cũ đã đè nặng trĩu lên chúng ta với những lo âu thấp thỏm. Trong một chừng mực nào đó thì tâm trạng này dứt khoát là thắng lợi, nhưng tôi rất tiếc là phải nói rằng các nhà Thần linh học đã thừa thắng xông lên để trở thành những kẻ giáo điều mới. Dần dần một đoàn thể những kẻ cuồng nhiệt đang được hình thành, họ đã khoác một hào quang thánh thiện lên cho người đồng cốt và bằng cách dẹp đi những điều kiện thử thách họ đã mời gọi việc thực hiện những trò lừa đảo thô thiển. Quả thật, người ta đã từng bắt tại trận đám đồng cốt dùng mánh khóe xung quanh toàn là đạo cụ tư trang, gỗ ván giả, tóc giả và con rối để có thể lừa bịp khiến người ta coi họ là thánh tử vì đạo làm cho đám đa nghi phải lồng lộn lên; bằng chứng đầy tội lỗi của họ đã được bí mật cung cấp qua những kẻ không tin và giáng một đòn chí tử cho chính nghĩa thiêng liêng của họ! Sự cả tin hau háu của một đoàn thể đông đảo những nhà Thần linh học đã làm nảy sinh ra 90% các mánh khóe thiếu trung thực của đám đồng cốt. Trong bài đề tựa cho Tam cá nguyệt san Khoa học, ông Crookes có nhận xét trung thực rằng: “Trong vô số những điều quan sát mà tôi đọc được biên bản phúc trình, dường như ít có một trường hợp hội họp nào được tổ chức với mục đích rõ rệt là đặt những hiện tượng lạ đó trong tình huống trắc nghiệm được”. Thế nhưng, mặc dù đúng như vậy, hầu như cũng chắc chắn là trong vòng 32 năm vừa qua, những người điều tra về các hiện tượng lạ này đã kiểm chứng được hàng ngàn chứng cớ cho thấy các hiện tượng lạ xảy ra trong tình huống hoàn toàn độc lập với tác nhân vật lý của những người có mặt; có một trí thông minh, đôi khi cá tính nổi bật, đang được phô diễn qua việc kiểm soát các lực huyền bí tạo ra hiện tượng lạ ấy. Niềm tin không thể lay chuyển được của hàng triệu nhà Thần linh học vốn dựa trên cái kho bao la những sự kiện đã được trắc nghiệm này, vì nó vững như bàn thạch. Số lớn những kinh nghiệm cá nhân này là thành lũy mà các nhà Thần linh học ẩn núp sau đó bất cứ khi nào thế giới bên ngoài gồm những kẻ đa nghi xục xạo tìm xem liệu cái “ảo giác” tập thể ấy có sụp đổ tan tành trước sự công kích của một kẻ phê phán sắc xảo mới mẻ nào đó, hoặc là cái việc lật tẩy mới nhất trò bịp bợm giả dối của đám đồng cốt có làm họ xấu hổ hay chăng. Đến lúc này thì ta mới khám phá ra rằng thật còn tệ hơn nữa khi cố gắng chế nhạo bằng chứng hiện thực của các giác quan con người khi thấy một vật rất nặng tự mình được nhấc bổng lên treo lơ lửng trên không trung hoặc thấy chữ được viết ra mà không có ai tiếp xúc, hoặc thấy một hình người tan biến đi trước mắt mình, để rồi tin vào cái thuyết cho rằng mọi hiện tượng đồng cốt chỉ là do “sự co cơ bắp”, do “sự chú ý đầy mong ước” hoặc do “tác động trí não vô ý thức”. Chính vì thử làm như thế cho cả đoàn thể khoa học gia đã bị nhà tâm lý học lão luyện tỏ thái độ vừa coi thường vừa thương hại. Ông Wallace cho ta biết rằng sau khi điều tra kỹ lưỡng, ông chưa bao giờ thấy có một người nào, sau khi đã tự mình hiểu biết nhiều về các giai đoạn chính yếu của hiện tượng lạ mà sau đó lại không tin vào sự thực ấy. Kinh nghiệm của tôi thì cũng thế thôi. Một số người không còn là “nhà Thần linh học” nữa và cải đạo thành Ki Tô hữu Công giáo, nhưng họ chưa bao giờ nghi ngờ sự thực về các hiện tượng lạ. Sẽ có một ngày đẹp trời mà mọi kẻ yêu chuộng khoa học chân chính hân hoan chào đón khi các giáo sự thời nay vứt bỏ được cái ý tưởng ngông cuồng cho rằng chỉ có thời nay mới đầy hiểu biết để hạ mình khiêm tốn không còn nghi vấn các tài liệu ghi chép lại của khoa học cổ sơ.
Chúng ta đã thấy rằng các thí nghiệm của Tiến sĩ Hare và ông Crookes chứng tỏ được sự tồn tại của một dòng lực; vì vậy ta chẳng cần phải bận tâm thêm nữa với nhiều phỏng đoán thô thiển cho rằng sự chuyển động của cái bàn, sự bay bổng của cái ghế và những tiếng gõ nhịp là kết quả của năng lượng cơ bắp thuộc người đồng cốt hay khách viếng thăm; ta nên chuyển sang chú ý tới một dạng nào đó của loại thần lực này khi nó phô diễn động năng của mình. Ta có thể phân loại nó ra thành các hiện tượng lạ biểu thị trí thông minh cũng như trao truyền thông tin và hiện tượng lạ thuần túy biểu lộ năng lượng vật lý. Thuộc lớp thứ nhất và xếp hàng đầu ta có cái gọi là “tiếng gõ của vong linh”. Chính những tín hiệu đơn giản này đã làm bộc phát cái phong trào hiện đại mà ta gọi là Thần linh học. Những tiếng phản kích nghe thấy được này biến thiên mức độ từ âm thanh của một tiếng tích tắc nho nhỏ cho đến tiếng gõ búa hoặc gõ vồ đủ mạnh để làm tan nát một cái bàn bằng gỗ gụ. Dòng lực tâm linh tạo ra chúng dường như tùy thuộc vào trạng thái của người đồng cốt kết hợp với tình hình điện khí và độ ẩm của bầu khí quyển. Khi một trong hai thứ đó bất lợi thì những tiếng gõ nếu có nghe được cũng chỉ nhỏ thôi, khi cả hai hài hòa thì những tiếng gõ lớn nhất và dai dẳng nhất. Tự bản thân chúng thì hiện tượng tiếng gõ này cũng đủ kỳ diệu rồi, thế nhưng chúng còn cả trăm lần hơn thế nữa khi ta thấy nhờ có chúng mà các sinh linh thông tuệ tự xưng là bạn bè đã quá cố của ta có thể giao tiếp được với ta. Cuộc giao tiếp ấy thường tiết lộ những điều bí mật mà chỉ có kẻ điều tra mới biết thôi còn chẳng ai khác đang có mặt biết được; trong những trường hợp hiếm hoi, thậm chí nó còn cung cấp những sự kiện mà chẳng có người nào hiện diện trong phòng lúc bấy giờ biết và mãi sau này người ta mới kiểm chứng được bằng cách tham khảo những tài liệu ghi chép thời xưa hoặc tham vấn những nhân chứng ở xa. Có một dạng tiếng gõ thanh lịch hơn, đó là tiếng nhạc giống như cú gõ trên một cái ly bằng thủy tinh hay một cái chuông bằng bạc mà ta nghe thấy được hoặc là phát ra từ bàn tay của người đồng cốt hoặc là giữa không trung. Người ta đã thường lưu ý thấy hiện tượng lạ đó ở nhà của ông Stainton Moses tức “M. A. Oxon” và ông Alfred R. Wallace cũng mô tả nó xảy ra ngay tại nhà của ông Wallace trước sự có mặt của cô Nichol, nay là bà Volckmann. Người ta đặt một ly để uống rượu vang trống rỗng trên bàn do cô Nichol và ông Humphrey vịn chặt để ngăn ngừa nó rung rinh. Ông Wallace cho chúng tôi biết rằng “sau một thời gian ngắn im lặng, người ta nghe thấy một âm thanh cực kỳ thanh bai giống như tiếng gõ vào cái ly, nó tăng âm lên những nốt lanh lảnh giống như tiếng leng keng của cái chuông bằng thủy tinh. Những tiếng này tiếp tục ở các mức độ khác nhau trong một vài phút v.v. . .” Ông Wallace lại bảo rằng khi một mình phụ nữ người Đức hát lên một bài ca bằng tiếng Đức thì kèm theo tiếng hát của bà có “một âm nhạc tinh tế nhất giống như một thùng nhạc cụ tuyệt hảo . . . Điều này xảy ra trong bóng tối nhưng lúc nào cũng có thể có đồng lỏa”. Bà Blavatsky có cho phép nhiều người hiện diện trong thính phòng hôm nay được nghe những tiếng chuông leng keng du dương như kiểu thần tiên từ khi bà đến Simla. Nhưng họ nghe tiếng ấy trong ánh sáng thanh thiên bạch nhật không có người đồng lỏa và ở bất cứ nơi đâu mà bà chọn để phục vụ họ. Hiện tượng này chẳng khác gì hiện tượng cô Nichol nhưng tình huống thì khác hẳn và tôi sẽ còn nói thêm một điều gì nữa về nó.
Ông Crookes thấy dòng thần lực biến thiên rất nhiều nơi cùng một người đồng cốt vào những ngày khác nhau và nơi người đồng cốt biến thiên từ phút này sang phút khác thì dòng thần lực chạy rất lung tung. Trong tác phẩm của mình ông có trình bày một số bản in khắc gỗ để minh họa những sự biến thiên ấy cùng với khí cụ tinh xảo mà ông dùng để dò tìm các biến thiên.
Trong số nhiều ngàn cuộc giao tiếp được gán cho là giao tiếp với các vong hồn vốn được công khai phổ biến, hầu hết chỉ chứa đựng những thông điệp tầm thường về gia đạo hoặc chuyện cá nhân, chi tiết của chúng ít ra thì người điều tra cũng có biết được và ta có thể gán cho đó là đọc tư tưởng của người điều tra; đôi khi chúng tôi gặp một số trường hợp cần phải giải thích khác đi.
Tôi có ý muốn nói những chi tiết được nhắc đến mà không ai có mặt trong buổi lên đồng biết. Ông Stainton Moses có ghi được một số trường hợp như thế khi một thông điệp đưa ra ở Luân đôn với ngụ ý xuất phát từ một ông già đã tham chiến ở Mỹ trong cuộc chiến tranh năm 1812 và đã tử trận ở đó. Chẳng ai ở Luân đôn đã từng nghe nói tới nhân vật ấy, nhưng khi người ta lục tìm trong kho tài liệu ghi chép của Bộ Quốc Phòng Mỹ tại Washington thì tìm thấy tên của người ấy và hoàn toàn bổ chứng được cho thông điệp ở Luân đôn. Vì không tiếp cận được với sách vở ở đây cho nên tôi bắt buộc phải tường thuật theo trí nhớ, nhưng tôi nghĩ rằng quí vị ắt thấy, xét về cốt lõi, thì những điều tôi trình bày là chính xác. Trong một trường hợp khác được ông J. M. Peebles xác nhận, nhà quí tộc này nhận được – hoặc là ở Mỹ hoặc là ở một nơi nào khác xa tít khỏi nước Anh – một thông điệp được qui cho là của một vong hồn, y bảo rằng mình đã sống và chết ở New York và nếu ông Peebles lục tìm văn khố của đô thị cổ ấy thì những phát biểu của vong hồn sẽ tỏ ra hoàn toàn chính xác. Theo thời gian ông đến viếng thăm New York và khi lục lọi sổ hộ tịch khai sinh và khai tử ở đó thì ông tìm được đúng những dữ kiện mà người ta đã hứa với ông.
Ngoài việc giao tiếp bằng tiếng gõ, cái gọi là các vong hồn còn sử dụng nhiều phương tiện khác để truyền tin cho người sống. Trong số đó có việc độc lập viết những thông điệp lên giấy đặt trên sàn nhà dưới cái bàn hoặc trong một ngăn kéo đóng kin, giữa những trang sách đóng kín, trên trần nhà hoặc trên tường hay khăn trải giường; trong những trường hợp ấy không hề có bàn tay con người nào ở gần nơi mà chữ viết hiện ra. Tôi đã thấy tất cả những hiện tượng này xảy ra dưới ánh sáng thanh thiên bạch nhật và trong tình huống đó thì không thể dùng mánh khóe bịp bợm được. Tôi cũng đã có một kinh nghiệm thỏa thích về năng lực đồng cốt hiếm có của Tiến sĩ Henry Slade; các bạn hẳn còn nhờ ông đã bị bắt giam vì một lời vu cáo ông thiếu trung thực ở Luân đôn, nhưng sau đó ông đã trình diễn một loạt những cuộc trắc nghiệm hoàn chỉnh nhất trước mặt Zollner và các nhà bác học đồng chí ở Leipzig, Aksakof, Boutlerof và Wagner, ở Saint Petersburg, cũng như Đại Hầu tước Constantine. Chính bà Blavatsky và tôi đã biệt phái Tiến sĩ Slade từ Mỹ đi Âu châu từ năm 1876. Một nhân vật rất cao cấp đã đặt hàng một cuộc điều tra của khoa học về Thần linh học, các giáo sư ở Đại học Hoàng gia Saint Petersburg đã tổ chức một Ủy ban thực nghiệm; Ủy ban này đã đặc biệt yêu cầu hai người chúng tôi tuyển lựa ra từ trong đám đồng cốt ưu tú nhất ở Mỹ người nào mà chúng tôi có thể tiến cử đem ra trắc nghiệm. Sau khi nghiên cứu nhiều lần chúng tôi chọn Tiến sĩ Slade; người ta đã gửi cho tôi ngân quỹ cần thiết để chi tiêu cho việc của ông và đến đúng lúc thì ông được tiến cử ra nước ngoài. Trước khi tôi giới thiệu chọn ông thì tôi yêu sách điều kiện là ông phải được trắc nghiệm trong tầm tay của một Ủy ban thuộc Hội Thông Thiên Học trước đã. Tôi cố tình chọn những thành viên của Ủy ban này là những người là rõ ràng đa nghi hoặc là hoàn toàn không quen biết với các hiện tượng lạ của Thần linh học. Slade được trắc nghiệm rốt ráo trong nhiều tuần và khi cuối cùng Ủy ban Thông Thiên Học báo cáo thì người ta chứng nhận các sự kiện sau đây đã xảy ra. Các thông điệp được viết ở bên trong bảng đá gồm hai lớp đôi khi được dán lại hoặc ép lại với nhau trong khi các bảng đá ấy hoặc là nằm trên bàn mà ai cũng thấy được hoặc là đặt trên đầu của các Ủy viên của Hội đồng, hoặc là nằm ép bên dưới bề mặt của cái bàn, hoặc là nằm trong tay một người thuộc Ủy ban mà không có người đồng cốt chạm vào. Chúng tôi cũng thấy có những bàn tay rời ra – nghĩa là bàn tay trôi nổi hoặc lao vọt qua không trung mà không có cánh tay hoặc thân mình gắn vào đó. Những bàn tay này chụp lấy sợi dây đeo đồng hồ của chúng tôi, nắm lấy tay chân chúng tôi, chạm vào bàn tay chúng tôi, giựt lấy những bảng đá hoặc các đồ vật khác bên dưới bàn, móc lấy những khăn mùi xoa từ trong túi áo của chúng tôi v.v. . . Và xin quí vị lưu ý rằng mọi chuyện này xảy ra trong ánh sáng, nơi mà mọi cử động của người đồng cốt đều có thể bị nhìn thấy rành rành giống như bất kỳ thính giả nào hiện diện có thể thấy được.
Có một dạng truyền tín hiệu khác đó là việc người đồng cốt bị bắt buộc viết ra các thông điệp khi một quyền năng vô hình nào đó kiểm soát bàn tay và cánh tay của y bất chấp ý chí của y. Chẳng những hàng ngàn mà còn hàng vạn trang giấy đã từng được viết ra theo kiểu cơ bút này, một số đề tài cũng đáng được lưu trữ, nhưng phần lớn chỉ là văn chương ba xu.
Có một phương pháp khác là sinh linh thông tuệ vô hình gây ấn tượng lên bộ óc nhạy cảm của một người đồng cốt bằng những ý tưởng và ngôn từ ngoài tầm hiểu biết của chính y, chẳng hạn như ngoại ngữ, tên người chết, hoàn cảnh chết của họ, yêu cầu thanh lý tài sản, ra lệnh tìm lại những tài liệu hoặc đồ vật quí đã bị thất lạc, thông tin về chuyện sát nhân hoặc bi kịch từ xa mà người chết chính là nạn nhân, chẩn đoán những bệnh còn đang thời ủ bệnh và gợi ý liệu pháp điều trị v.v. . . Quí vị ắt thấy có nhiều ví dụ trong mỗi nhóm hiện tượng lạ này đã được ghi chép lại và được kiểm chứng thỏa đáng.
Trong tác phẩm Vùng đất còn tranh chấp của Dale Owen có tường thuật một giai thoại rất thú vị về lai lịch của một chiếc đàn cổ mà người ta mua được ở một tiệm bán đồ cũ ở Paris do cháu của nhà soạn nhạc nổi tiếng Bach vớ được. Chi tiết rất ly kỳ và quí vị nên đọc vì thiếu thời giờ cho nên tôi không thể đi sâu vào chi tiết thêm nữa của đề tài này.
Nhưng trong số mọi sự giao tiếp thông minh của thế giới bên kia với thế giới của chúng ta, dĩ nhiên không điều gì so sánh được với hiện thực đáng kinh ngạc về những tiếng nói nghe thấy được. Tôi đã nghe thấy những tiếng nói thuộc đủ mọi âm lượng, từ tiếng thì thào kề sát bên tai nghe như tiếng rì rào của ngọn gió hiu hiu thổi qua cành cây, cho tới tiếng rền vang như sấm hầu như làm căn phòng rung chuyển và cách căn nhà cả chục thước vẫn còn nghe thấy được. Tôi đã nghe thấy những tiếng nói với mình đi xuyên qua những cái ống bằng giấy, qua những cái kèn bằng kim loại và qua không gian trống rỗng. Trong trường hợp người đồng cốt lừng danh trên thế giới là William Eddy, thì những tiếng nói này nói bằng bốn ngôn ngữ mà người đồng cốt thì dốt đặc cán mai. Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ nói tới hiện tượng lạ của Eddy.
Một trong những hiện tượng lạ hay ho nhất – tôi xin nói là hấp dẫn nhất ngoại trừ việc nhớ lại âm nhạc thần tiên trong các hiện tượng đồng cốt – là việc mang những đóa hoa còn tươi đẫm ướt sương mai, cây cối và cây nho cùng với các sinh vật như chim chóc, cá vàng và bướm vào trong các buồng kín khi người đồng cốt rõ ràng không tự mình mang chúng vào được. Ở nhà bạn tôi, đích thân tôi đã giữ tay một người đồng cốt mà trước đó tôi đã chụp lên đầu y một cái bao rồi thắt lại ở cổ y bằng dải rút và trong nhà không có đồng lỏa; trên trọn cái bàn có phủ đầy những bông hoa, cây cỏ và chim chóc bay phấp phới vào lòng tôi, mà chúng ở đâu ra thì có trời mới biết được. Chuyện này xảy ra khi mọi cửa ra vào và cửa sổ đều đóng chặt lại còn được dán kín bằng những dải giấy để không ai ra vào được. Những hiện tượng lạ này xảy ra hầu hết là trong bóng tối, nhưng có một lần tôi thấy một cành cây được mang vào phòng giữa lúc thanh thiên bạch nhật. Có một lần tôi hiện diện ở buổi lên đồng tại nước Mỹ khi nhà quí tộc yêu cầu “các vong linh mang lại cho mình một cây nhỏ trồng ở vùng đất đầm lầy tại Tô cách lan; đột nhiên một cây bị nhổ bật gốc và đất tươi rói còn bám vào rễ rớt độp xuống bàn ngay trước mặt tôi.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: THẦN LINH HỌC và THÔNG THIÊN HỌC   Sun Jul 18, 2010 10:54 pm

Đối với kẻ nào bước theo lộ trình nỗ lực này thì các hiện tượng đồng cốt là cực kỳ quan trọng vì chúng đưa y vào địa hạt của cõi Vô hình, chỉ cho y thấy một số bí mật kỳ quặc nhất trong bản chất con người. Cùng với thuật đồng cốt, y còn nghiên cứu từ khí sinh vật, các định luật và hiện tượng của nó và Odyle của Nam tước Richenbach cũng đều cho ta thấy thực chất và tính phân cực của Lực này; sự thật là nó dường như tương cận với một lực vĩ đại duy nhất thấm nhuần trọn cả thiên nhiên. Y sẽ rút ra được thêm bằng chứng qua thuật trắc tâm của Buchanan cùng với các thí nghiệm đối với những người mà y thấy được thiên phú về năng lực trắc tâm. Nếu có ai ở đây cảm thấy đó là một từ ngữ mới lạ thì tôi xin bảo rằng đây là một tên gọi mà người khám phá ra nó thời nay dùng để chỉ một quyền năng nào đó mà cứ bốn người thì có một người sở hữu; y có thể nhận được các ấn tượng trực giác về tính tình của người viết một lá thư hoặc vẽ một bức tranh bằng cách trực tiếp tiếp xúc với bản thảo chữ viết tay hoặc bức tranh vẽ. Mọi người trong chúng ta đều thường xuyên để lại ấn tượng về tính tình của mình tồn đọng trong mọi vật mà chúng ta có tiếp xúc, cũng giống như đá nam châm truyền lại một số đặc tính của mình cho mọi cây kim mà người ta cạ vào nó. Có một điều tinh vi nào đó – từ khí tức lưu chất sinh động, tức lực thông linh – thường xuyên rỉ rịn ra khỏi chúng ta. Chúng ta để nó tồn đọng lại trên mặt đất khiến cho con chó tìm thấy chúng ta, nó tồn đọng trên quần áo của chúng ta khiến cho con chó săn theo người nô lệ đánh hơi được đường đi nước bước của kẻ nghèo khó chạy trốn về nơi trú ẩn. Chúng ta làm cho nó thấm đẫm những bức tường trong nhà mình và một nhà trắc tâm nhạy cảm khi bước vào phòng khách nhà ta trước khi hội ngộ với gia quyến vẫn có thể nói không sai lầm liệu đây là một gia đình hạnh phúc hay một gia đình lục đục. Chúng ta bị nó vây quanh như một bầu hơi nhạy cảm và khi chúng ta gặp nhau thì chúng ta lặng lẽ tiếp nhận một ấn tượng về việc chúng ta thích hợp với nhau hay phản cảm với nhau. Phụ nữ có nhiều ý thức này hơn đàn ông và đã có nhiều trường hợp khi trực giác tiên tri của bà vợ đối với một kẻ mới quen nào đó bị ông chồng chế nhạo và gát bỏ ngoài tai, thì sau này được nhớ lại một cách tiếc nuối vì lẽ ra mình không nên xem thường nó. Các nhà trắc tâm học lỗi lạc thậm chí có thể rút ra được một ấn tượng sống động về mọi hoạt cảnh trong lịch sử xuất phát từ một mảnh vật chất vô tri vô giác chẳng hạn như một chút xíu của tòa nhà cổ kính hoặc một mảnh vụn của bộ quần áo cũ. Khi biểu lộ cao độ thì khoa trắc tâm trở thành thần nhãn chân thật; lúc bấy giờ thị giác của linh hồn thực sự mở ra, con mắt bên trong ta vốn chưa bao giờ mờ xỉn chỉ cho ta thấy những điều Bí ẩn của Vũ trụ Vô hình.
Thông Thiên Học cho người nghiên cứu biết tiến hóa là sự thật nhưng cơ tiến hóa không phải chỉ riêng phần và bất toàn theo cách trình bày trong thuyết của Darwin. Cũng như có một cơ tiến hóa trong thiên nhiên vật lý mà đỉnh cao và tinh hoa của nó là con người vật thể, cũng vậy có một cơ tiến hóa song hành trong lãnh vực tinh thần. Kết quả của cơ tiến hóa này là con người nội tâm tức tâm linh; và cũng giống như trong vũ trụ hữu hình xung quanh ta thấy có hằng hà sa số hình tướng tiến hóa thấp hơn bản thân ta, cũng vậy nhà Thông Thiên Học tìm thấy trong vùng đất chưa ai biết của nhà vật lý – lãnh vực “Bất khả tri” – vô số loại hình tâm linh thứ yếu mà con người đang đứng đầu vòng cung đi lên. Nhà vật lý chỉ biết các nguyên tố xét về tính chất hóa học hoặc những tương quan động lực học; nhưng người này đã quán triệt được Khoa học Huyền bí ắt tìm thấy trong lửa, không khí, đất và nước có những cấp đẳng sinh linh dưới nhân loại, một số thù địch, một số gây thuận lợi cho con người. Chẳng những y biết được về các sinh linh ấy mà còn đạt được khả năng kiểm soát chúng. Chuyện dân gian trên thế giới thấm đẫm nhiều sự thật về khả năng này; mặc dù nhà sinh học thời nay tỏ ra khinh thường nó, song le đây lại là sự thật. Người nào nguyên quán ở Ái nhỉ lan hoặc vùng sơn cước Tô cách lan ắt biết được những sinh linh này có tồn tại. Tôi không phỏng đoán đâu mà tôi biết điều ấy. Tôi nói một cách bình tĩnh và táo bạo như thế về đề tài này vì tôi đã gặp những người tinh thông Huyền bí học Á đông và thấy họ hiển lộng thần thông. Chính vì thế mà tôi mới không còn tự xưng là nhà Thần linh học vào năm 1874 để rồi đến năm 1875 tôi hợp tác với những người khác để sáng lập ra Hội Thông Thiên Học ngõ hầu xúc tiến việc nghiên cứu những hiện tượng tự nhiên này. Tôi đã thấy một người học được các khoa bí nhiệm ở Ấn độ và Ai cập tùy ý tạo ra những sự kiện kỳ diệu nhất về thuật đồng cốt ngay dưới ánh sáng thanh thiên bạch nhật. Trong những tình huống ấy, tôi đã thấy hàng loạt đóa hoa hồng rơi xuống phòng, những bức thư từ các xứ sở xa xôi được người ta gửi tới rồi rớt từ trên không trung xuống lòng tôi, tôi đã nghe thấy tiếng nhạc du dương văng vẳng từ xa trên không trung rồi càng ngày càng lớn dần lên cho tới khi nó vào tận phòng để rồi lại dịu bớt đi trong bầu không khí im lặng cho đến khi tắt hẳn. Tôi đã thấy chữ viết xuất hiện trên giấy và trên bảng đá đặt trên sàn nhà, những bức vẽ trên trần nhà quá tầm với của bất cứ người nào, những bức tranh trên giấy mà không thấy dùng tới bút chì hoặc màu vẽ, những bài báo được sao chép lại trước mắt tôi, một người còn sống tức khắc biến mất ngay trước mắt tôi, lọn tóc đen được cắt ra từ đầu của một người đầu tóc bù xù, tôi đã thấy trong một khối pha lê những người bạn đang vắng mặt và những phong cảnh ở xa; còn ở nước Mỹ có tới hơn 100 lần khi mở bức thư viết về đủ thứ đề tài mà bưu điện mang đến cho tôi từ những người viết thư liên lạc với tôi ở khắp mọi nơi trên thế giới, tôi đã thấy bên trong đó có viết theo thủ bút quen thuộc thông điệp dành cho tôi xuất phát từ những người đang ở Ấn độ vốn có được hiểu biết về định luật thiên nhiên theo Thông Thiên Học. Ở đâu đó, có mỗi một lần tôi đã thấy triệu thỉnh tới trước mắt tôi một nhân vật đã được “hiện hình” hoàn toàn giống bất kỳ nhân vật nào đã từng bước ra khỏi cái phòng kín kỳ diệu của William Eddy. Nếu đó không phải là điều kỳ diệu khi một nhà Thần linh học chứng kiến những hiện tượng lạ về đồng cốt mà chẳng biết gì về khoa huyền bí học cho nên mới tin vào sự can thiệp của vong hồn người chết, thì liệu có gì lạ lẫm hơn chăng khi một người như tôi sau khi tiếp nhận biết bao nhiêu bằng chứng về điều mà ý chí lão luyện của con người có thể thành tựu được, lại trở thành một nhà Thông Thiên Học chứ không phải là nhà Thần linh học nữa? Thậm chí tôi cũng chưa dốc hết toàn bộ danh mục những bằng chứng mà tôi đã biết chắc trong vòng 5 năm vừa qua về thực tại của khoa tâm lý học Á đông; nhưng tôi hi vọng là mình đã liệt kê đủ để chứng tỏ cho quí vị thấy rằng ở Ấn độ có những điều bí nhiệm đáng được mưu tìm, và thiên hạ ở đây quen thuộc với các lực huyền bí trong thiên nhiên hơn bất cứ nhà quí tộc nào đã từng hành nghề giáo sư và nhà sinh học. Người ta ắt hỏi biết đâu những bằng chứng mà tôi đưa ra về các hiện tượng thông minh của giới đồng cốt lại chẳng được gán cho những người bạn đã quá cố của chúng ta. Để trả lời tôi xin hỏi liệu có bằng chứng nào không chối bỏ được là có những người bạn ấy chăng? Nếu người ta có thể chứng tỏ rằng phần hồn của người đồng cốt còn sống – mà chính bản ngã trên cõi trần của y vẫn chưa có ý thức về nó – có thể rịn ra và nhờ vào bản chất có thể thiên biến vạn hóa để khoác lấy dáng vẻ của bất cứ người quá cố nào do nó thấy hình ảnh trong trí nhớ của khách viếng thăm; nếu mọi hiện tượng lạ ấy đều có thể được một nhà tâm lý học có giáo dục tùy ý tạo ra; nếu hình ảnh của mọi người và mọi diễn biến cũng như rung động của mọi âm thanh đều được bảo tồn mãi mãi trong chất æther của khoa học – Ākāsa của người Ấn độ, Hồn thế giới (Anima Mundi) của nhà Thông Thiên Học, Tinh tú quang (Astral Light) của phái Kabalah – theo như các nhà huyền bí học đã khẳng định và chứng tỏ bằng thực nghiệm; nếu mọi điều này đều đúng sự thật thì tại sao lại cần phải cầu viện tới vong hồn người chết để giải thích những điều mà người sống có thể thực hiện được? Chừng nào chưa tiếp cận được với một thuyết khác cạnh tranh thì các nhà Thần linh học vẫn là thành trì kiên cố chống lại khoa học duy vật, phương án của họ là đường lối khả hữu duy nhất để giải thích điều mà họ chứng kiến. Nhưng nếu đã có sẵn một thuyết cạnh tranh cho thấy nguồn dữ liệu của tâm lý học và bản chất của Vũ trụ Vô hình thì ta thấy các nhà Thần linh học ngay tức khắc bị dồn vào thế thủ mà không có khả năng bịt miệng được những người phê phán. Kẻ nào quan sát hời hợt ắt bảo rằng chẳng hạn như hình ảnh của bà già theo phái Quaker không thể là gì khác hơn ngoài cái vong hồn của bà trở lại – con trai bà không thể nhầm lẫn và nếu có chút nghi ngờ nào khác thì sự hiểu biết quen thuộc của bà về chuyện gia đạo thậm chí cái thói quen cũ của bà cứ hết vê tròn rồi lại buông ra cái yếm nội trợ làm bằng vải mịn của mình ắt đã nhận diện được bà rõ ràng. Nhưng nhân vật ấy chẳng làm hoặc nói điều gì không in hằn sâu trong trí nhớ của đứa con trai cho dù những ấn tượng đã bị ngủ quên ấy từ lâu rồi có thể bị những hình ảnh mới mẻ hơn làm cho mờ tối đi. Cơ thể người đồng cốt đang lên cơn xuất thần thì sinh lực hoạt động của y bèn được truyền cho cái bản ngã bên trong tức là cái song trùng thể (double), song trùng thể ấy có thể xuất hiện dưới dạng người mệnh phụ đã quá cố thu tóm và bình luận những diễn biến quen thuộc mà nó tìm thấy trong bầu hào quang từ điện của đứa con trai. Quí vị ắt khó mà hiểu được điều này vì cho đến nay các khám phá khoa học phương Tây chưa hề băng qua được ngưỡng cửa của thế giới Thần lực ẩn tàng này. Nhưng tiến bộ là định luật trong tư tưởng của con người và giờ đây ta đang đến gần bờ mép của cái vực thẳm phân chia khoa học vật lý với khoa học tâm linh đến nỗi chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ bắc cầu vượt qua vực thẳm ấy. Cứ coi đây là lời tiên tri đi, nếu quí vị kiên nhẫn chờ đợi thì quí vị ắt thấy có ngày nó sẽ được thực hiện. Bấy giờ thái độ của các phe sẽ khác đi. Việc truyền bá quan điểm của chúng tôi cùng với nhiều phúc trình của những người chứng kiến tận mắt về những sự việc do các hội viên Thông Thiên Học thực hiện đã khiến cho thiên hạ bàn tán xôn xao trên khắp thế giới. Một số lớn những nhà Thần linh học thông minh đã gia nhập hàng ngũ chúng tôi và khích lệ công trình của chúng tôi. Các nhóm cảm tình viên đã được tổ chức thành các chi bộ ở nhiều xứ khác nhau, ngay cả ở đây, tại Simla cũng đã nảy sinh ra một hạt nhân vốn sẽ trở thành một Chi bộ Anh Ấn. Không một xứ sở nào trên thế giới lại cung cấp được một môi trường rộng lớn để nghiên cứu tâm lý học như ở Ấn độ. Ở đây người ta đã biết tới và thực hành cái mà người Âu Tây gọi là Từ khí Động vật dưới dạng hoàn thiện nhất từ biết bao thế kỷ nay. Người Ấn độ cũng biết rất rõ nguyên sinh khí nơi con người, động vật và cây cỏ. Nếu quí vị tìm kiếm khắp nơi ở Ấn độ thì quí vị ắt tìm thấy dân bản xứ có sở hữu nhiều sự thật mà Âu Mỹ rất cần biết tới. Và quí vị là những nhà quí tộc thuộc các nhánh quân sự và dân sự phục vụ cho công ích, ắt là những người thích hợp để đảm đương công trình này với sự trợ giúp của người Ấn độ. Quí vị cứ đối xử công bằng và tử tế với họ thì họ sẽ kể cho quí vị cả ngàn chuyện mà hiện nay họ đang giấu kín trong nội bộ. Chính sách của chúng tôi nói chung là hòa giải và hợp tác để tìm ra sự thật. Một số kẻ hớt lẻo đã bắt đầu phúc trình rằng Hội chúng ta đang rao giảng một tôn giáo mới. Điều này không đúng sự thật: Hội không có tôn giáo nào khác hơn so với Hội Nghiên cứu Á châu của Hoàng gia, Hội Địa lý học Hoàng gia hoặc Hội Thiên văn học Hoàng gia. Cũng như các hiệp hội này có những phân bộ riêng, mỗi phân bộ dành cho một chuyên ngành khảo cứu nào đó; chúng tôi cũng có những phân bộ như thế. Chúng tôi tiếp nhận mọi người thuộc đủ mọi tôn giáo và mọi chủng tộc, đối xử với mọi người trân trọng và vô tư bình đẳng. Trong hàng ngũ của chúng tôi có những người mang dòng máu vương giả, quí tộc và thứ dân. Hội viên chúng tôi có Edison, Wallace, Camille Flammarion, ngài Lindsay, Nam tước Du Potet và ông lão bát tuần Cahagnet cùng với cả chục người có phẩm chất trí thức như thế. Chúng tôi chỉ có một tham vọng, đam mê cháy bỏng – muốn biết con người là gì và có bản chất ra sao. Có ai ở đây mà chẳng đồng cảm với những khát vọng ấy hay chăng? Có ai mà lại chẳng cảm thấy trong lòng mình le lói việc mưu tìm nhân tính chân chính, có ai dám đánh giá cao minh triết thiêng liêng hơn hẳn những danh dự và phần thưởng của cuộc sống nơi trần thế hay chăng? Thế thì những anh em đang mơ mộng ấy hãy cứ đến đây để cho chúng ta kết hợp những nỗ lực và thiện chí của mình. Ta hãy làm hết sức mình để phục hồi lại từ trong quên lãng hàng thế kỷ cái tri thức vô giá về những sự việc thiêng liêng mà chúng ta gọi là Thông Thiên Học.

H Ế T
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
THẦN LINH HỌC và THÔNG THIÊN HỌC
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng
» Linh hồn đã ở đâu trước khi đầu thai?
» Sâm Ngọc Linh
» [Review] Thương Ly - Tuyết Linh Chi
» Vãng Cảnh Linh Sơn Trường Thọ Tự- Tượng Phật nằm lớn nhất Đông Nam Á tại núi Tà Cú - Phan Thiết

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI . :: Your first category :: - NHÓM NGHIÊN CỨU TÂM LINH ĐÔNG TÂY VÀ DIỂN ĐÀN TỰ DO VỀ TÂM LINH :: TÀI LIỆU BÀI VIẾT VỀ HUYỀN MÔN ĐÔNG TÂY-
Chuyển đến