CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .
ĐỂ VÀO DIỂN ĐÀN TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC , BẠN CẦN ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY .
CHÚC BẠN AN KHANG THỊNH VƯỢNG VÀ TINH TẤN TRÊN CON ĐƯỜNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC ........
TRUNG TÂM HUYỀN BÍ HỌC ĐÔNG TÂY

CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .

Cùng tìm tòi, nghiên cứu, chia sẻ, thảo luận và thực hành các kỷ năng, kiến thức tâm linh để tạo hạnh phúc cho bản thân và tha nhân ..........
 
Trang ChínhPortalCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Nghiệp và kết quả
Wed Aug 16, 2017 6:08 pm by lyquochoang

» Thọ Khang Bảo Giám
Mon Aug 07, 2017 6:41 am by lyquochoang

» LIỀU MÌNH CỨU KHỈ XOAY CHUYỂN SỐ PHẬN.
Mon Jul 24, 2017 4:37 am by lyquochoang

» GIẢI ĐÁP DIỆT DỤC
Thu Jun 22, 2017 4:27 am by lyquochoang

» Bí Phép Luyện Đạo
Thu May 04, 2017 9:30 pm by lyquochoang

» KHO SÁCH MIỂN PHÍ QUÝ HIẾM
Sun Apr 09, 2017 7:03 am by Admin

» Ngọc Lịch Bửu Phiêu
Tue Apr 04, 2017 8:30 pm by lyquochoang

» Kinh Bát Chánh Đạo
Tue Mar 28, 2017 3:34 am by lyquochoang

» Chuyên sỉ lẻ Tranh tượng phật chất lượng - đẹp - rẻ!
Mon Mar 20, 2017 5:04 am by nguyenphuong12

Navigation
 Portal
 Diễn Đàn
 Thành viên
 Lý lịch
 Trợ giúp
 Tìm kiếm
Diễn Đàn
Affiliates
free forum


Share | 
 

 Tu Mật Tông Phật Giáo theo Thầy Hai Lúa Hoa Sen Trên Đá

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Tu Mật Tông Phật Giáo theo Thầy Hai Lúa Hoa Sen Trên Đá   Tue Feb 07, 2012 5:23 am


Tu Mật Tông Phật Giáo THEO Hai Lúa HOA SEN TRÊN ĐÁ

Khái niệm tổng quát để Tu Mật Tông Phật Giáo

Thông thường là hành giả bắt đầu trì chú và đọc những kinh về đề tài này.
Trong này thường nói về công năng của những câu chân ngôn. Vào xâu hơn tý nữa thì lại có bàn về những vòng phép (mandala). Và dĩ nhiên cũng có nhìn thấy những hình ảnh về các ấn pháp.

Tuy nhiên, để có đủ công năng như những cuốn kinh thì hành giả phải có một tâm lực vững vàng, một lối sống tràng đầy "Đại Nguyện". Và một sự đam mê đến "ám ảnh" về sự nghiên cứu những hiện tượng của các thế giới (còn gọi là "cõi") khác.

Tất nhiên là để có một tâm lực vững vàng thì không gì hơn là Tứ Thiền Hữu Sắc (là mức độ tối thiểu), và những cõi Vô Sắc.

Lối sống tràng đầy "Đại Nguyện": Là lối chơi liều lỉnh, đông đưa với "Tử Thần", qua những "cái làm đại" để giúp người.

Đam mê nghiên cứu là:
Cứ sau một câu hỏi: Tại sao?
Là một thời gian tự kềm kẹp, giữ giới luật thật là nghiêm chỉnh bằng cách kiểm tra tư tưởng liên tục, và thiền định miên mật.
Làm như vậy để giừ cái tâm thật là thanh tịnh,có nghiã là:
Cái tâm nó im re và càng lắng xâu vào sự im re và sau cùng là tâm nó thăng bằng trong sự im re.
Do sự thằng bằng này mà hể bất cứ một tư tưởng nào mà đụng tới hành giả là hành giả biết liền.

Nghiên cứu:
Và sau đó là dùng màn tivi và đưa câu hỏi vào. Có hai trường hợp:

1. Màn tivi im re: Tâm hành giả chưa đủ mức độ thanh tịnh để giải quyết sự việc. Giải quyết: Kềm kẹp tiếp và miên mật thiền định tiếp để lấn dần từ Tứ Thiền vào những lớp định cao hơn trong cõi Vô Sắc.

2. Màn tivi trả lời liền sau khi câu hỏi được đưa vào.

Có được cái nhìn tổng quát như vậy, và hành giả vẫn cứ lì lợm cho rằng:

Tuy là khó đó, nhưng tui vẫn có thể tập được.

Vì nếu cần thì ... hy sinh để tập cho bằng được

Hội đủ tiêu chuẩn cuối cùng này thì hành giả biết được là mình sinh ra là để tu tập Mật Tông Phật Giáo.
MẬT TÔNG
AUM
________________________________________

PHƯƠNG TIỆN ĐỘ LÀ CỨU CÁNH
AI MUỐN CÓ ĐỦ NÊN DỰA TRÊN NGUYÊN TẮC:
MUỐN CÓ THÌ PHẢI CHO!
AI ĐÃ VÔ “DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH” và TỪ ĐÓ PHÁT “6 ĐẠI NGUYỆN” ĐƯỢC GỌI: BỒ TÁT.
AI ĐÃ SỐNG VÀ HÀNH ĐỘNG NHƯ MỘT VỊ BỒ TÁT ĐƯỢC GỌI: BỒ TÁT.

Tu sĩ MẬT TÔNG là một người sống bình phàm, mang lý tưởng BỒ TÁT, trên tiếp thông với chư PHẬT, dưới phổ độ chúng sanh, khi bình thường: như người thường, khi có việc lại SIÊU PHÀM VƯỢT THẾ.
Ở đây, chúng ta chỉ nói đến một số kỹ thuật để khai triển hết mức một ĐÀN PHÁP
Sau khi hộ thân xong, đọc 6 đại nguyện (đọc ở trạng thái nhập định CAO NHẤT):

• Chúng sanh vô lượng thệ nguyện ĐỘ.
• Phiền não vô biên thệ nguyện TẬN.
• Phước trí vô biên thệ nguyện TẬP.
• Pháp môn vô lượng thệ nguyện HỌC.
• Bồ Tát vô cùng thệ nguyện SỰ.
• Phật đạo vô thượng thệ nguyện THÀNH.

Ví dụ: Vô đàn pháp QUÁN THẾ ÂM.

1. Nhập vô TỨ THIỀN (nhờ vô đề mục), quán HỘT CHÂU MẪU, vừa đọc trong tâm NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT. Khi hột châu mẫu xuất hiện rõ nét, đặt câu hỏi: Tại sao phải làm vậy? Liền thấy một cảnh khổ, rồi ta nguyện xin xó ĐỨC Q-T-Â xuất hiện để cứu khổ: Q-T-Â xuất hiện và rưới nước cam lồ cho họ.

2. Quán một màn tivi, và đọc NAM MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT.
Thấy Ổng xuất hiện, giữ càng lâu càng tốt! Nhớ thử Ổng rồi mới xài.
ĐỪNG BAO GIỜ QUÊN!

Phương pháp thử một linh ảnh coi có thiệt không:
a. Giữ linh ảnh cho lâu
b. Tâm đọc: tất cả các chúng hữu tình không có phận sự hãy lui ra.
c. Đọc chậm rải ba (3) lần, lần cuối thêm: (không thôi bị tổn thương!).
d. Nếu linh ảnh không biến: Quán ẤN HỘ THÂN bay vô NGỰC linh ảnh.
e. Nếu linh ảnh PHÁT QUANG: Đúng là thứ thiệt! Xài được!
f. Nếu nó CHÁY hay tiêu ra NƯỚC: là thứ dỏm. Không xài và không sao hết.

3. Đang lúc tu sĩ giữ linh ảnh: Ổng xuất hiện như thật trước mặt mình:
TÂM GIỚI HẠN, NĂNG LỰC GIỚI HẠN.

4. Ở đây, có thể GIẢI OAN cho cả gia đình tu sĩ: bằng cách quán một vài người trong gia đình cùng cầu nguyện với mình trong đàn pháp vào BAN ĐÊM.

5. Thắc mắc cái ĐẢNH bằng thịt hay xương: giữ Ổng lại, Ổng trùm vô mình: lấy TAY rờ thử: TIẾP XÚC VỚI TẤT CẢ Ý TƯỞNG TỐT, VÀ KINH NGHIỆM ĐỘ SANH.

6. Làm một vài việc nhỏ mang tính cách TỪ BI…

7. Hỏi xem câu chú của Ổng là gì: Ổng sẽ thần giao cách cảm với mình về CÁCH ĐỌC THẦN CHÚ, nhớ LẠI cho kỹ và nói lại cho anh em khi cần.

8. Thắc mắc LƯNG Ổng để làm gì? Và ra sau lưng Ổng coi: Hình ảnh đó để độ tử. Đi độ tử, rồi về hỏi Ổng (ở hình ảnh đó): thần chú của Ông lúc này, đọc làm sao?

9. Tương tự như vậy đi hết 6 mặt (trái: TỪ, phải: BI, dưới: HỶ, trên: XẢ).

10. Quán coi hiện giờ AI đang HỘ TRÌ mình? Hỏi họ có cần làm người không? Nếu họ cần: Nhờ họ làm một công việc thiện nhỏ, RỒI ĐỘ HỌ QUA TỊNH ĐỘ. Lúc này HỘ PHÁP VI-ĐÀ mới xuất hiện! (cao khoảng 3 mét).

11. Sau đó làm một vài việc về TỪ, BI, HỶ, XẢ: độ tử, độ sinh (chữa bịnh).

12. Nguyện xin Ổng thể hiện ĐẠI NGUYỆN? Ổng liền xuất hiện trong TAM-THIÊN-ĐẠI-THIÊN-THẾ-GIỚI: TÂM VÔ LƯỢNG, NĂNG LỰC VÔ LƯỢNG. (đàn pháp gốc).

13. Độ liên tục, phân thân lung tung, thuyết pháp trong ĐÀN PHÁP GỐC trên.

14. Nguyện xin Ổng biểu hiện ở PHƯƠNG TIỆN VÔ LƯỢNG: Ổng xuất hiện ở dạng THIÊN-THỦ-THIÊN-NHÃN. (Hình ảnh này không có 6 mặt).

15. Chư vị quỷ thần đến hộ trì mình (tay họ đã cầm chày KIM CANG), họ cao khoảng 10 mét. Thực hiện lại điều (10).

16. Đem THIÊN-THỦ-THIÊN-NHÃN qua đàn pháp gốc (12): Nguyện xin ngài phát Đại Nguyện. TÂM VÔ LƯỢNG + NĂNG LỰC VÔ LƯỢNG + PHƯƠNG TIỆN VÔ LƯỢNG.

17. Dựa vô uy đức của Ổng, nguyện xin cho tu sĩ đi BẤT CỨ nơi nào: SẮC CỨU CÁNH (để học hỏi thêm vài đàn pháp nữa), THẬP PHƯƠNG TỊNH ĐỘ, qua đó xong rồi xin PHẬT ẤN CHỨNG, đi gặp CÁC TỔ: (Ca-diếp, Long Thọ, Milarepa, Babaji…).

18. Lúc này HỘ-PHÁP KIM CANG MẬT TÍCH mới xuất hiện cao khoảng 16 mét. Để phân biệt HỘ PHÁP KIM CANG với chư QUỶ THẦN, tu sĩ căn cứ vô CẶP MẮT của họ:
• Hộ pháp kim cang có cặp MẮT LỒI, tròng đen có VÒNG XOÁY. Khi mở miệng lại PHUN RA LỬA NGỌN. Tay cầm chày KIM CANG màu VÀNG, SÁNG CHÓI.
• Chư quỷ thần có cặp MẮT PHƯỢNG, xếch, không lồi. Khi mở miệng không có lửa.

Tu sĩ sẽ tiếp thông được với ĐẠI NHẬT QUANG NHƯ LAI và với TỲ LÔ GIÁ NA, còn phần trước, tu sĩ chỉ mới tiếp xúc được với chư vị BỒ TÁT (để ý đến đảnh của mình là biết liền).

* JNÃNA – PARAMITA *

Những điều căn bản về Mật Tông.
Nhằm mục đích giới thiệu về Mật Tông, tui và anh Hồng Phả soạn tài liệu này vào ngày 10 tháng 10 năm 1985. Tài liệu này gồm ba phần:
1. Mật Tông là gì?
2. Tu Mật phải làm gì?
3. Quan điểm của người tu Mật.
Phần 1
HL: Mật Tông là gì?
HP:Mật Tông là một tông phái của Đạo Phật dùng các Mật Ngữ của Chư Phật làm phương tiện tu hành.
HL: Mật Ngữ là gì?
HP: Mật Ngữ có nghiã là lời nói kín, gọi là chân ngôn, tức là lời nói chân thật. Mật ngữ còn gọi là chú, đây là tiếng thông thường người đời hay dùng nhất, chú cũng có nghiã là lời nói bí mật vậy.
HL Tại sao là chú lại là bí mật?
HP: Bí mật vì nó không được giải nghiã, bí mật vì chỉ có Chư Phật thì mới hiểu trọn vẹn. Bí mật vì nó đem lại những kết quả không thể ngờ. Bí mật vì tùy trình độ căn cơ và sự ứng dụng, mỗi người hiểu một khác nên đạt một kết quả khác nhau. Bí mật vì nó chỉ truyền đạt do Tâm truyền tâm giữa Thầy Trò, giữa Chư Phật hoặc người nói ra chân ngôn với hành giả, điều này, chỉ người nào tu Mật rồi thì mới chứng nghiệm được. Bí mật vì kết quả đạt được tuỳ vào tâm của hành giả.
HL: Tại sao lại dùng chú làm phương tiện tu hành?
HP: Theo Đạo Phật thì có rất nhiều cách để đi đến cứu cánh giải thoát, có người niệm Phật, có người tụng kinh, có người ngồi thiền, vậy thì dùng chú cũng chỉ là mượn xe để đi đến đích mà thôi.
HL:Tại sao lại chọn chú mà không dùng các cách khác như niệm Phật, tụng kinh?
HP: Trong một cuộc hành trình muốn đi đến mục đích nào đó, người ta thường thích chọn xe nào đi cho nhanh nhất, và thoải mái, vậy thì việc chọn chú hay dùng cách phương tiện khác cũng là như thế mà thôi.
HL: Tại Chú là phương tiện đi nhanh nhất?
HP: Vì dùng chú thì ngoài tự lực của mình, còn nhờ tha lực như đi thuyền biết trương buồm, nên nhờ đến sức gió đẩy mà đi nhanh hơn.
HL: Vậy thế nào là tự lực? Thế nào là tha lực?
HP: Tự lực là dựa vào sức của chính mình mà thành việc, tha lực là nhờ vào sức khác ở ngoài mà trợ giúp, người tu mật tông nói đến tha lực là nói đến sức hỗ trợ vô hình từ các cõi khắp thế gian đưa đến.
HL: Vậy tại sao là phải nhờ vào tha lực?
HP: Bởi vì sức người có hạn, và sức ngoài thì vô hạn, nếu nương vào sức đó thì sẽ giúp ta sớm đạt được kết quả
HL: Nhờ đâu ta có tha lực hổ trợ?
HP: Nhờ chân ngôn tức chú.
HL: Căn cứ vào đâu mà nói chú lại có tha lực?
HP: Điều này thuộc về bí mật mà chỉ có thể chứng minh bằng đức tin của mình, bằng sự chứng nghiệm và cảm nhận. Kết quả chỉ được xác mình khi thực sự đã hành trì.
HL: Vậy thì chú do đâu mà có?
HP: Chú do tâm Phật mà có, Chú do lòng thương sót chúng sinh mà có, Chư Phật , chư bồ tát hoặc các vị khác khởi từ tâm chân thật, lòng thương xót chúng sinh mà nói ra chú để cứu độ. Vì xuất phát từ tâm chân thật nên có tên là chân ngôn.
Lời bàn thêm của đệ:
Tụi mình để ý đến hai cách trình bày một sự việc như sau:
Cũng như khi ta dùng câu:
Tiếng chó sủa để diễn tả hành động của con chó.
Thì ta còn một cách khác nữa là ghi lại: Gâu! Gâu! Vốn là âm thanh thật sự của con chó khi sủa.
Thêm một ví dụ nữa để cho thật là rõ:
Khi ta dùng câu: Tiếng xe đang leo dốc nặng nhọc thì đó là ta đang nói về cái tiếng phát ra từ cái máy xe khi leo dốc, nhưng không có âm thanh.
Nhưng khi để diễn tả rõ ràng hơn thì ta lại dùng thuật ngữ:
Xe ầm ì leo dốc một cách nặng nhọc: Ùnn! Ùnn!!!
Thì âm thanh ầm ì: Ùnn! Ùnn! đó chính là tiếng động do máy xe phát ra khi leo dốc.
Thì ở đây, khi bàn về những hành động cứu độ của một Đức Phật (như Ngài A Di Đà Phật chẳng hạn) thì ta phải nói đến bốn mươi hai đại nguyện của Ngài :
Nhưng khi đối trước Pháp Thân và lắng nghe âm thanh của Ngài khi cứu độ thì mình lại nghe được chân ngôn là “Hrih” vốn là cái âm thanh đại diện cho những đại nguyện của Ngài.
Và khi ta dùng tâm ta để phát ra chính cái âm thành này thì ta lại vô tình ... được đồng hành với Pháp Thân do vậy mà có kết quả nhanh chóng.

HL: Đọc chú có lợi ích gì?
HP: Vì chú xuất từ chỗ vô hạn là tâm Phật, nên lợi ích của nó cũng vô cùng, không thể kể hết, nên đối với người tu thì lợi ích đúng đắn và thiết thực nhất là giúp chúng ta được tìm cầu giải thoát mau chóng, giúp người khác cùng tiến với ta trên con đường giải thoát còn các pháp khác như là thần thông trừ tà ma, chữa bệnh là phụ. Không nên nhìn chú bằng con mắt hạn hẹp đó.
HL: À!!!! Vậy những ai có thể đọc chú được?
HP: Chú là phương tiện của Phật cho mượn, nên ai mà không có quyền đọc? Tuy nhiên khi ta mượn một cái xe thì điều cần thiết nhất là ta phải biết sử dụng nó hay không? Nếu không thì xe lại trở thành một trở ngại, một khó khăn cho ta, làm cho ta dừng lại với xe mà không tiến được trên con đường Đạo. Bởi vậy, những người biết lái xe, hiểu bệnh của xe, phải là người được huấn luyện chuyên môn.
Do đó đọc chú thì ai cũng đọc được nhưng có kết quả hay không? Kết quả nhiều hay ít thì đó mới là vấn đề!!!
Ấy là chưa nói đến cái hại có thể đến nữa. Nói như thế không hẳn chỉ những người tu chân ngôn mới được đọc chú mà bất cứ ai nếu với tâm thành thật hướng đến sự tốt lành của ngươ‘i khác vẫn có thể dùng chú mà vẫn thấy linh nghiệm.
HL: Đọc chú đòi hỏi những điều kiện gì?
HP: Đương nhiên là cần một số điều kiện, thông thường thì ta phải có sự tin tưởng vững chắc vào chúng, lòng thành khẩn khi đọc, hướng về sự làm lợi ích cho tha nhân hay các chúng sanh.
Người tu Mật Tông còn cần nhiều điều khác như: phải xả thế nào? Dụng tâm ra sao? Dụng ý thế nào? Dùng lực làm sao? Dụng thế nào trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm , ngồi? Phải làm thế nào để “Tam Mật Tương Ưng”? Phải làm lợi ích cho chúng sanh thế nào? Phải hồi hướng công đức ra sao? Tất cả những điều đó, nói riêng cho người tu Mật sẽ được giải đáp trong phần 2 (Người Tu Mật Tông Phải Làm Gì?).
HL: À!!! Vậy khi nào nên đọc chú? Và khi nào không nên đọc?
HP: Nên đọc chú lúc tâm thanh tịnh, làm lợi lạc cho người khác! Không nên đọc trong lúc tâm rối loạn hay khởi những ý ác hại người.
Tuy nhiên, nếu giữ được tâm bình thản thì lúc nào cũng đọc được.
Ngược lại chú cũng giúp cho tâm ta an ổn khi ta biết sử dụng chú đúng lúc và đúng chỗ.
Đối với người tu Mật thì không có lúc nào là không nên đọc chú, vấn đề là nên đọc chú nào? Vào trường hợp nào, để làm lợi lạc cho chúng sanh.
HL: Đối với người tu Mật thì mục đích trì chú là gì?
HP: Mục đích tối hậu là giải thoát cho mình và để cứu độ cho người khác.Mục đích là phải tu thành Phật bằng phương tiện trì chú ngay hiện kiếp.
HL: Muốn tu thành Phật bằng phương tiện trì chú thì phải làm sao?
HP: Thì hành giả tu Mật phải thực hiện được “Tam Mật Tương Ưng” nghiã là làm sao cho thân, khẩu, ý giống như chư Phật.
HL: Làm thế nào có được “Tam Mật Tương Ưng”?
HP: Muốn được Tam Mật Tương Ưng thì phải qua một quá trình tu tập và hành trì. Đi nhanh hay chậm là ở sự tự ngộ và mở tâm của mình.
HL: Người tu Mật Tông đối với Giới, Định, Huệ là như thế nào?
HP: Tu theo Đạo Phật mà muốn thành tựu thì chẳng có tôn phái nào mà không có Giới, Định, Huệ. Đối với người tu Mật Tông: Giới là tâm giới, định giới nghiã là tự lòng mình thấy cần phải giữ giới, tự mình trở về với cái tịnh, cái sạch đó là thân tương ưng.
Nếu không giới tịnh thì việc tu không kết quả, khi đã giới rồi thì vào định chẳng khó. Vì tự giới đã sinh Định rồi lại còn nương vào oai lực của chơn ngôn nữa thì kết quả phải đạt do đó: Do có Định mà Huệ phát là cái tất nhiên. Tuy nhiên nếu nhìn sâu hơn thì Định Huệ là một, không rời nhau do đó nếu giữ Giới rồi, sau đó nương vào chơn ngôn mà hành trì thì có đủ cả Định và Huệ
HL: Mật Tông thuộc Tiểu Thừa hay Đại Thừa?
HP: Phân chia Tiểu Thưà và Đại Thưà chỉ là tạm tách ra cho dễ hiểu về đường hướng tu tập và quan niệm hành trì mà thôi. Mật Tông không nằm vào Thưà nào kể trên cả vì con đường Mật Tông là con đường nhanh nhất, ngắn nhất, một bước đến giải thoát nên còn gọi là “Tối Thượng Thưà” hay “Kim Cang Thưà”.
HL: Thế nào là “Tối Thượng Thưà”?
HP: “Tối Thượng Thưà” là một bước đi lên thành Phật, Tối Thượng Thưà là vạn Pháp thông đạt, vạn pháp đầy đủ, tâm vô cấu nhiễm, lià các pháp tướng đi hẳn vào tâm Phật.
HL: Đường lối của Mật Tông ra làm sao?
HP: Mật tông tu là để cứu độ chúng sanh, chớ không phải là chỉ để giải thoát cho riêng mình, do đó đường lối của Mật Tông là: mọi nơi, trong mọi lúc đều nhằm vào việc làm lợi lạc cho chúng sinh, lấy phương tiện độ sanh, độ tha làm tự độ.
HL: Mật Tông khác với các Tông khác như thế nào?
HP: Vì mục đích sau cùng của các Tông phái đều đạt đến chỗ “Giác Ngộ” và “Giải Thoát” vì vậy Mật Tông cũng không đi ra ngoài mục đích đó. Nếu có khác, là khác trên phương diện hành trì đối với các tông phái khác mà thôi. Hay nói khác đi là chỉ khác về cách dùng các phương tiện để đạt đến mục đích cứu cánh, vấn đề này sẽ được bàn rộng về phần 3 (Quan Niệm Của Người Tu Mật). Còn về sự khác nhau trên phương diện độ sanh tôi không nói đến vì tất cả đều là tùy duyên mà đáp ứng.
HL: Tu Mật Tông có khó lắm không?
HP: Khó hay dễ đều do mình, các cụ thường nói: Vạn sự khởi đầu nan, nghiã là mọi việc khi bắt đầu đều khó. Lúc quen rồi thì cũng thấy dễ thôi.
HL: Người Nữ có thể tu được Mật Tông không?
HP: Đạo không phân chia nam nữ, Phật không chọn nam nữ để độ riêng, vậy thì tại sao ta lại phân biệt? Đã là đi tìm giác ngộ thì già trẻ, lớn bé, gái trai gì mà không đều đi tìm giác ngộ được?
HL: Hay!!! Người ta thường nói “tự tu, tự độ” thì Mật Tông có vậy không?
HP: Nên hiểu “tự tu, tự độ” là mình tự tu cho mình, không ai tu dùm hoặc tu mướn cho mình được.
Đừng hiểu là tu không cần Thầy! Các cụ đã dạy: “Không Thầy, đố mầy làm nên”. Vì vậy, dù thế gian hay xuất thế gian, làm việc gì muốn đạt đến đích cho mau chóng thì đều phải có học, phải có Thầy. Mật Tông cũng vậy mà thôi.
HL: Người ta thường nói: Đọc chú, bất ấn và cho là mê tín và hành tà, giống như mấy ông Thầy Pháp hay là phù thủy đó. Vậy đối với Mật Tông thì sao?
HP: Khi nào tin một cách mù quáng thì đó là mê tín, còn người tu Mật Tông thì biết rõ việc mình làm, có mục đích mình tiến tới, vậy sao gọi là mê tín được?
Còn việc Tà hay Chánh thì phải hiểu là Đạo không phân chia tà chánh, mà tà hay chánh là do ở tâm ý của người hành đạo:
Nếu ta tu theo chánh đạo mà ta dùng phương tiện đi làm việc xấu như: cướp đoạt tiền bạc, vợ con của người, lòng đầy tham sân si thì đó là ta đang hành tà.
Còn nếu như Thầy pháp mà người ta làm việc cứu người, không nghĩ đến quyền lợi riêng tư của cá nhân, không hại người lành, ngăn chặn kẻ ác, thì đó là chánh chứ đâu phải tà?
Về người tu Mật là: Tu để thành Phật, vậy làm sao gọi là tà được? Phật và ma chỉ khác nhau ở lòng từ bi cứu độ, mà từ bì cứu độ là tôn chỉ của Mật Tông vậy.
HL: Tu Mật Tông phải cần ăn chay giữ giới không?
HP: Nếu ăn chay được thì tốt, vừa ít bệnh tật và mau tiến tu hơn, vì thân thể thanh tịnh, còn như không ăn chay được thì cũng vẫn tu được, chỉ có điều là ta không thể hiện được lòng từ bi của Phật khi ta dùng thân mạng của một chúng sanh khác để nuôi sống chính bản thân của mình.
Về giữ giới thì người Phật Tử nào đã quy y rồi thì đều phải giữ năm giới: Không sát sanh, Không trộm cướp. Không tà dâm. Không nói sai, nói dối, nói hai lưỡi, nói đâm thọc. Không uống rượu. Mật Tông cũng vậy thôi, vấn đề này sẽ được bàn đến trong phần sau. Người tu Mật Tông khi thật sự đã hành trì thì không nói đến giữ giới mà tự giữ giới còn hơn ai hết.
HL: Nhưng làm sao để chọn chú nào mạnh, chú nào yếu? Chú nào linh, chú nào không linh?
HP: Mạnh hay yếu, thì khi nào học và hành trì thì sẽ rõ. Linh hay không là do ở mình. Các cụ có nói: “Linh tại ngã, bất linh tại ngã” ta không nên quên điều đó.
HL: Người Phật Tử khi đọc kinh sách gặp một câu chú thấy ghi những kết quả lớn, thì đem trì tụng như vậy có ích lợi không?
HP: Có lợi nhưng rất nhỏ nhoi không đáng kể so với lợi ích đã ghi chép trong kinh sách.
HL: Vì sao lợi ích lại nhỏ
HP: Vì còn lòng tham: muốn cầu lợi riêng cho mình, vì tâm còn nhỏ hẹp nên sự linh ứng không lớn, vì không biết trì chú nên sự đáp ứng không được như ý, vì thiếu ấn pháp nên chưa trọn vẹn, vì công đức chưa đủ mà muốn được hành trì lớn.
HL: Vì sao đọc chú lại cần bắt ấn?
HP: Ấn là bí pháp thuộc về “Thân Mật”. Khi nào tu lâu sẽ hiểu, đại để có thể giải thích khi ta bắt ấn ta có thể phát huy cái lực của chú, cũng ví như khi mở đài TV mà có thêm ăng ten vậy. Đối với người tu Mật thì sự bắt ấn còn là một việc thể nhập vào pháp thân Phật nữa.
HL: Tại sao người tu Mật lại gọi là “trì chú”?
HP: Trì có nghiã là nắm giữ lấy, nếu ta chỉ đọc không thôi thì nó sẽ theo gió mà bay. Còn khi nói trì thì phải nghe rõ chú, phải theo âm thanh của chú, phải giữ chú mãi mãi không rời. Đó là sự khác nhau giữa đọc và trì.
HL: Trì chú, bắt ấn bao lâu thì có kết quả?
HP: Người tu Mật Tông chỉ nói đến hành trì để cứu độ chúng sanh mà thôi, chớ không mong kết quả cho mình. Còn thành tựu lâu hay mau, lớn hay nhỏ đều do ở mình. Chỉ có hai điều chắc chắn có thể nói được là:
1. Tu theo Mật Tông thì có thể tiến triển từng giờ, từng ngày.
2. Là khi có thành tựu chỉ có khác nhau ở chỗ lớn hay nhỏ mà thôi.
HL: Thế nào là tiến từng giờ, từng ngày?
HP: Vấn đề này thuộc về chứng nghiệm, chỉ khi nào tu thì mới thấy rõ được. Nhưng có thể nói rằng, nương vào chân ngôn, thì tiến được rất nhanh, giờ sau khác giờ trước, ngày sau khác ngày trước.
HL: Tại sao thành tựu lại khác nhau lớn hay nhỏ?
HP: Ở hành giả thì sự thành tựu lớn hay nhỏ là do tâm mình, nếu đem so sánh giữa hai hành giả thì tùy theo căn cơ phước đức và sự mở tâm của người đó mà có sự khác biệt. Tuy nhiên nếu gắng công tu để đạt tới sự tương ưng thì cái thành tựu ban đầu nhỏ nhoi đó sau cũng sẽ lớn lên vô hạn. Do đó, người hành giả đừng lo là không thành tựu mà cũng đừng buồn là thành tựu nhỏ.
HL: Muốn tu Mật Tông thì cần phải có những điều kiện gì?
HP: Cửa Phật mở rộng, không ngăn che ai cả, nên không cần điều kiện. Chỉ cần người tu hành thật sự muốn cứu độ chúng sanh là tu được mà thôi. Nếu ta sẳn có đức tin và có lòng từ thì tu đâu có trở ngại gì?
HL: Điểm nào là điểm đặc biệt làm cho Mật Tông hơn hẳn các tông phái khác?
HP: Mật Tông chỉ đem so sánh với các tông phái khác để biết sự khác biệt thôi, chớ không phải để phân biệt hơn kém.
HL: Vậy thì có sự khác biệt ra sao?
HP: Điểm nổi bật và thấy dễ nhất đó là Mật Tông lấy chú làm phương tiện và do phương tiện này, đem đến những lợi ích đặc biệt lớn lao.
HL: Lợi ích lơn lao là như thế nào?
HP: Nghiệp là cái đem con người trôi lăn trong sinh tử luân hồi, nay nhờ vào chú, ta chuyển được cái nghiệp đó, giải được nghiệp để sớm giải thoát, đó là điểm khác biệt quan trọng nhất của Mật Tông so với các tông phái khác.
HL: Còn điểm nào khác nữa không?
HP: Chú còn giúp hành giả lập công bồi đức và còn làm tiêu tội nghiệp nữa, đó là những điều mà nếu ta theo những pháp môn khác thì không giải quyết được dễ dàng. Đó là chỉ kể những vấn đề thiết thực cho vấn đề sinh tử luân hồi, chứ chưa nói đến lợi ích như chữa bệnh, tăng thêm thọ mạng ... v.v ...
HL: Phật tử theo tông phái khác hay xem kinh sách và tự mình trì chú và bắt ấn như thế có được không?
HP: Được chứ, có ai cấm đâu? Tuy nhiên tu học kiểu đó cũng giống như người mù chơi dao: lợi bất cập hại.
HL: Tại sao lại lợi thì ít mà hại thì nhiều như vậy?
HP: Vì chú là con dao hai lưỡi. nếu biết xài thì rất nhạy bén, nếu không biết xài thì dễ bị đứt tay!
HL: Như vậy thì có ý nghiã gì?
HP: Đã gọi là thần chú thì có những linh nghiệm lớn, thì cũng có những tác hại không nhỏ cho người hành giả nếu không biết sử dụng.
HL: Hại à! Hại thì hại ra sao?
HP: Đã có biết bao nhiêu tu sĩ cũng như Phật tử trì chú lâu ngày trở thành khùng điên, bất bình thường đó là phản ứng tất nhiên của chú.
HL: Như vậy muốn trì chú và bắt ấn thì phải làm sao?
HP: Phải được truyền pháp một cách đúng đắn qua các tu sĩ Mật Tông, hoặc những người đã tu học Mật chớ không nên tự mình làm ẩu!
HL: Muốn được truyền pháp thì phải làm sao?
HP: Thì phải gia nhập những dòng pháp của Mật Tông.
HL: Nhập dòng pháp là thế nào?
HP: Là xin gia nhập vào các dòng pháp và tu theo những người đã có kinh nghiệm và hành trì về dòng Pháp đó.
Kính chào anh HL and all,
Những hỏi đáp về mật tông của anh HL và HP hay lắm, anh có nghĩ rằng mình có thể in thành một tập sách nhỏ để phổ biến cho mọi người muốn tìm hiểu và tu về mật tông không ? Để lãng phí những tài liệu kinh nghiệm thật tu thật chứng thì thật uổng. Với sự phát triển của word processor, gía in ấn bây giờ không mắc lắm. Vậy xin phép 2 anh HL và HP, được cất giữ những tài liệu này trong một trang web trên internet, khi có điều kiện tài chánh sẽ xin ấn tống in thành sách biếu cho mọi người có tâm muốn học.
Và xin hồi hướng tất cả công đức này cho mọi loài chúng sinh.
trân trọng
TN
In vn-buddhism@y..., Phuoc V Nguyen <hi-lwa@j...> wrote:
HL: Cái này là của Anh Hồng Phả, chớ không phải là của tui (HL), hồi gặp nhau trên Đà Lạt thì hai nhóm cư sĩ (lu bu Đà Lạt và nhóm cư sĩ chợ Bà Chiểu) cũng có ý đồ là phổ biến cái chuyện tu hành này nọ (nhóm Đà Lạt chủ trương cho coi ... chùa, nhóm Bà Chiểu thì in ấn đàng hoàng hơn và tính chuyện buôn bán) nhưng tới bấy giờ thì tui vẫn chưa liên lạc Anh Hồng Phả được. Anh ấy sống ở costa mesa CA.
Tuy vậy, ai cũng thích chuyện có tài liệu hay để ... sưu tầm và cũng có thể tự tu được luôn. Nên tui mới tự động ghi lại buổi nói chuyện này từ băng cassette (thu vào năm 1992). Việc đã ghi ra thì Quý vị muốn làm gì thì làm!!!! Nhưng vì nó là kinh nghiệm đúc kết từ trại tù (lúc đi gở mìn của Anh Hồng Phả, anh trì chú Lăng Nghiêm và xin cán bộ cho ăn chay), và bốn lần chết đi sống lại của tui (HL) nên chuyện buôn bán thì không nên mà chỉ nên in xong rồi biếu không thì mới là xứng đáng.
Mến :-).
Hai Lúa :-).
MẬT TÔNG
Mật Tông là cách đi từ con đường "Có" vào con đường "Không".

Vì có cái tên là "Mật Tông" nên ai cũng tưởng đây là "Bí Mật", là "Kín", là "Chỉ có một số người nào đó được biết mà thôi". Hay là Pháp Môn này "thuộc về mâm trên".

Do đó cho nên, những người Thầy đều làm bộ là "Mật" nên họ muốn nói sao thì nói, và nói ra sao thì cũng được.
Pháp Môn "Mật Tông" bị các Thầy tung hoả mù đến độ. Cho đến bây giơ cũng chẳng còn ai biết đâu là đâu nữa.

Tất nhiên, đó là cái sai lầm lớn của một số người làm nghề là "Thầy Tu".

Chớ có ai ngờ đâu: Mật là "Tam Mật Tương Ưng".
Nói theo cách này thì dể nghe và dể hiểu hơn:

Tam Mật là: Thân, Khẩu, Ý.
Tương ưng là : y chang, là giống nhau y đúc, là trùng nhau.

Như vậy là Tam Mật Tương Ưng là: Tu sĩ y chang như là Đức Phật. Có nghiã là ... tu xong rồi.

Thế nào là tu xong rồi?
Là Ngũ Uẩn Giai Không.

Và đi từ đường "Có" nên nó khác rất là xa cách đi từ con đường "Không".

Đường "Có" là có đủ thứ:
1. Có linh ảnh của Bồ Tát (tibu thì là: Linh ảnh Nghìn Tay, Nghìn Mắt và 11 cái đầu của Ngài Quang Thế Âm).
2. Có linh ảnh của Phật (tibu là: Ngài A Di Đà Phật),
3. Có Linh ảnh của Hành Giả,
4. Có linh ảnh của Hộ Pháp.
5. Và có luôn linh ảnh của vị Phật cao cấp nhất: Đó là linh ảnh của Ngài Tỳ Lô Gía Na ở trên Liên Hoa Tạng.

Tu sĩ gôm được đủ nguyên bộ Linh ảnh này rồi thì sẽ thực hiện công đoạn "Phản Bổn Hoàn Nguyên". Có nghiã là quay về cội nguồn.

Năm linh ảnh này khi hội tụ trên trung tâm của Liên Hoa Tạng thì lại đóng vai là Ngũ Uẩn.

Và khi thi hành công đọan "Năm Ông Nhập Một" (danh từ của lubu) thì tu sĩ có thể là:
Một vị Phật.
Một vị Độc Giác Phật.
Một vị Bồ Tát.

Quy trình này do tibu tìm ra, và sự tập dợt rất là gian nan và có khi lại nguy hiểm.
Nhất là lúc thực hiện kinh nghiệm của hai chày kim cang giao nhau. Ba chày kim cang giao nhau. Bốn chày kim cang giao nhau và sau cùng là năm chày kim cang giao nhau.
Cuối cùng mới là giai đoạn "Phản Bổn Hoan Nguyên".

Sau nay, tibu lại tìm ra cách cho mấy Nhí vào trực tiếp mà không cần qua các giai đoạn đã trình baỳ ở trên! Một phát kiến chỉ có ở Việt Nam.
Quy trình lại đơn giản, ít gian nan và ít nguy hiểm hơn, nếu tu sĩ trụ vào những việc thiên về "Phước Báu Độ Sanh".

Hai Nhí Bám sát tibu và dùng Diễn Đàn để thực hiện những việc thiên về Phước Báu Độ Sanh.

Và khi đi gặp Ngài Ty Lô Giá Na, cả hai Nhí đã đủ phước báu và đã lọt vào quy trình năm chày Kim Cang giao nhau tạo ra tiếng nỗ Trứ danh: Subham!

Tibu không thể viết rõ ra quy trình "Phản Bổn Hoàn Nguyên". Là vì hể mà viết ra là Hai Nhí này sẽ làm liên, trong khi sức khỏe chưa phục hồi được bao nhiêu. Và đó là điều nguy hiểm.
Hết

Thần Chú
Thần Chú là chân ngôn hay là lời nói chân thật, ý nghĩa của Chú chỉ có Chư Phật mới hiểu. Chú do tâm Phật, do lòng từ bi của chư Phật mà có. Mật chú của chư Phật là phép bí mật chỉ có Phật với Phật tự biết nhau, các vị Thánh không thể đạt. Chỉ tụng trì là diệt được đại lỗi mau lên Thánh vị.
Mật chú không thể giải thích được là vì Thần chú là viên mãn, giải thích bằng ngôn từ sẽ trở nên phiến diện, làm mất đi thần lực của chú, bởi vậy cho nên không giải thích cho người khác rõ được, mật nghĩa nằm trong đó, cần phải suy nghĩ.
Công năng của Thần chú khác nhau, tuỳ vào người truyền chú và cũng tuỳ thuộc vào tâm lực của hành giả. Sự chứng nghiệm và kết quả sẽ được hiện lộ sau khi hành trì.
Sau đây là những Thần Chú phổ biến:
Phật, Bồ Tát Thần Chú
Phật Thích Ca Om, Muni Muni Mahamuni sakyamuni Svaha
Phật Tỳ Lô Giá Na Om, Vairocana Hùm
Phật Bảo Sinh Om, Ratnasambhava Tram
Phật Bất Không Thành Tựu Om, Amogasiddhi Ah
Phật A Di Đà Om, Amitabha Hrih
Phật Bất Động Om, Akshobya Hùm
Quan Thế Âm Bồ Tát Om Mani Padme Hùm
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Om Driym
Chuẩn Đề Bồ Tát Om Kalê Kulê Kundê Svaha
Địa Tạng Vương Bồ Tát Om Chalohê Kara svaha
Hộ Pháp Kim Cang Om Vajra Agnipranan Pataya Svaha
Ngoài ra còn có nhiều loại thần chú: Hộ thân, chữa bênh, hàng long v.v
TRÌ CHÚ
Như là học sinh học võ thuật với đủ thứ binh khí:
Đoản côn (khúc gậy ngắn), trường côn (khúc gậy dài), nhị khúc (roi của Lý Tiểu Long) Tam Khúc (dài gấp bốn lần cái nhị khúc… Cái nào cũng... chết người hết. Nhưng có người thì thích vũ khí dài, có người lại thích cái ngắn. Như vậy Chú cũng cùng một ý như trên. Nay bàn về trình độ cao thấp khi trì chú và những triệu chứng của nó. Trì niệm chú thuật thì có rất là nhiều trình độ:

1. Tự Vệ Nhập Môn:
Công dụng là dùng ngôn ngữ. "Có_Vô_Lượng_Nghĩa" của Thần Chú để thô tâm bớt vọng. Cao hơn một tý thì chư quỷ thần theo hộ chú vì ưa thích tính tình của mình như: sự cố gắng tu tập tuy rằng không có thời giờ. Từ đây tu sĩ tài tử đã có người hộ vệ nên linh tính khá bén nhậy.

2. Cận Định Trì Chú:
Vì thô tâm thanh tịnh nên tình trạng Cận Định (gần nhập được chánh định) xuất hiện: Tình trạng này làm cho hành giả cảm nhận có những người theo mình hay ở phía sau lưng mình. Mình có thể cảm nhận sự xuất hiện của họ qua cảm giác mát lạnh sau gáy hay nằng nặng sau cổ ở vùng bả vai. Trình độ này nếu phước báu nhiều thì có thể chữa bệnh Ma Nhập hay giải bùa ngải và đôi khi chữa được một số thân bệnh nhưng kết quả không rõ ràng cho lắm. Bạn bè vô hình thường là cõi Tha Hóa Tự Tại là nhiều.

3. Chánh Định Trì Chú:
Tới đây thì mới có thể gọi là tu tập Mật Tông được rồi đây. Vì hầu như các khai triển Đàn Pháp đề đòi hỏi Hành Giả phải có trình độ nhập chánh định tối thiểu là Tứ Thiền Hữu Sắc. Còn các từng thiền khác như Tam hay Nhị và Sơ Thiền thì tâm lực đều còn yếu và như vậy: chưa đủ lực để chuyển câu Chú và học hỏi ở câu chú đó. Tóm lại trình độ của hành giả chỉ là Tự Vệ Nhập Môn nên tụng câu nào mình thấy quen là được rồi.

http://hoasentrenda.com/MatTong/ThanChu.htm

KIẾT ẤN HỘ THÂN
Khi kiết ấn thì các bắp thịt của bàn tay nên được "thư giản vừa phải".
Thực hành về khái niệm "thư giản vừa phải":

1. Ngữa bàn tay ra với các ngón tay khít lại với nhau.
2. Để bàn tay này lên trên mặt bàn.
3. Thư giản cái bắp thịt của bàn tay.
4. Chú ý đên độ thư giản của các ngón tay. Các ngón tay nghiên cở 45 độ là "vưà phải" còn cong lại như chữ "C" là thư giản nhiều quá.

Kiết ấn: Với mức độ thư giản của các ngón tay thì khí lực mới cộng hưởng với tâm lực mà phát ra được.

Kiết ấn có ba trường hợp:

a. Tu sĩ mới tu hành và có những hiện tượng như sau:
1. Đã tu tập và có sử dụng "Thần Quyền" vào những việc như đánh võ, chữa bệnh, viết bùa ... Rất là nhiều lần, một cách siêng năng.
2. Khi đang tu tập một mình mà cửa tự mở hay là đồ đạc trong phòng tự di chuyển.
3. Tiền kiếp đã tu về "Thần Quyền".
Thực hành:
Tu sĩ kiết ấn bằng tay và hộ thân theo công thức.

b. Tu sĩ có khuynh hướng xuất hồn, hay là khi tập thì nó đau ngay ngực:
Hiện tượng này xảy ra là vì đang tu đến khoảng Tam Thiền và lúc này các trung tâm năng lực nó bị nở ra quá! Nhất là trung tâm năng lực Anahata (ngay ngực).
Thực hành:
Tu sĩ bất ấn bằng cách quán hình ellipse (hột gà dựng đứng với hai đầu bằng nhau) màu vàng khè. Trong hình ellipse vày có một tu sĩ đầu trọc và bận áo cà sa màu vàng khè. Tu sĩ quán cho ông tu sĩ này hộ thân. Khi ấn chạm tới đâu thì tu sĩ sẽ thấy chỗ đó lóe hào quang, căn cứ vào mức độ lóe sáng này thì tu sĩ sẽ biết được mức độ vững chắc của cách hộ thân.

c. Kiết ấn với trình độ "Thường Trú Tam Bảo".
Cách này dành cho Tứ Thiền Hữu Sắc trở lên. Ở trình độ này, khi tu sĩ để ý đến trên đảnh của mình, thì tu sĩ có thể thấy có những người ngồi hay đứng trên hoa sen.

Những người này được sắp xếp theo thứ tự sau đây:
Gần mình nhất có thể là vị Thầy của mình và cũng có thể là cái vòng phép (Mandala) mà mình đang học.
cao hơn một tý thì những vị Thầy khác và cao hơn tý nữa thì tới những vị Phật. Có hai trường hợp rõ ràng:

1. Tu sĩ chưa vào các định ở Vô Sắc: Vị Phật cao nhất là Tỳ Lô Giá Na phát quang màu xanh dương.
2. Tu sĩ vào được các định ở Vô Sắc: Vị Phật cao nhất là :Hắc Bì Phật phát quang 7 màu cầu vòng.
Các vị này cư ngụ thường xuyên trên đảnh của tu sĩ: Nên gọi là "Thường Trú Tam Bảo".
Đây là một tình trạng cao cấp của Mật Tông. Tuy nhiên nó lại có những mức độ cao thấp của chính nó.

Mức độ 1: Tu sĩ thấy hào quang của những vị này phát sáng rất là linh động, nhưng pháp thân thì cứng đơ, y như là hình chụp. Muốn tiến tu thì tu sĩ dùng nguyên tắc: "Muốn có thì phải cho" có nghiã là tiếp tục cho và tiếp tục làm việc thí pháp ...

Mức độ 2: Hào quang linh động và Pháp Thân cũng sinh động luôn. Đây quả thật là trình độ cao cấp nhất của Mật Tông.
Lúc này tu sĩ làm bất cứ việc gì thì những hành động này đều là "ấn".
Và dĩ nhiên là tu sĩ nói bất cứ điều chi thì lời nói này đều là "thần chú"
Hết.
« Sửa lần cuối: Tháng Hai 10, 2009, 02:45:56 gửi bởi Tibu »
Tu sĩ MẬT TÔNG là một người sống bình phàm, mang lý tưởng BỒ TÁT, trên tiếp thông với chư PHẬT, dưới phổ độ chúng sanh, khi bình thường: như người thường, khi có việc lại SIÊU PHÀM VƯỢT THẾ.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Tu Mật Tông Phật Giáo theo Thầy Hai Lúa Hoa Sen Trên Đá   Tue Feb 07, 2012 5:24 am


Đàn pháp QUÁN THẾ ÂM
1. Nhập vô TỨ THIỀN (nhờ vô đề mục), quán HỘT CHÂU MẪU, vừa đọc trong tâm NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT. Khi hột châu mẫu xuất hiện rõ nét, đặt câu hỏi: Tại sao phải làm vậy? Liền thấy một cảnh khổ, rối ta nguyện xin xó ĐỨC Q-T-Â xuất hiện để cứu khổ: Q-T-Â xuất hiện và rưới nước cam lồ cho họ.
2. Quán một màn tivi, và đọc NAM MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT. Thấy Ổng xuất hiện, giữ càng lâu càng tốt ! Nhớ thử Ổng rồi mới xài. ĐỪNG BAO GIỜ QUÊN!
Phương pháp thử một linh ảnh coi có thiệt không:
a. Giữ linh ảnh cho lâu
b. Tâm đọc: tất cả các chúng hữu tình không có phận sự hãy lui ra.
c. Đọc chậm rải ba (3) lần, lần cuối thêm: (không thôi bị tổn thương!).
d. Nếu linh ảnh không biến: Quán ẤN HỘ THÂN bay vô NGỰC linh ảnh.
e. Nếu linh ảnh PHÁT QUANG: Đúng là thứ thiệt! Xài được!
f. Nếu nó CHÁY hay tiêu ra NƯỚC: là thứ dỏm. Không xài và không sao hết.
3. Đang lúc tu sĩ giữ linh ảnh: Ổng xuất hiện như thật trước mặt mình: TÂM GIỚI HẠN, NĂNG LỰC GIỚI HẠN.
4. Ở đây, có thể GIẢI OAN cho cả gia đình tu sĩ: bằng cách quán một vài người trong gia đình cùng cầu nguyện với mình trong đàn pháp vào BAN ĐÊM.
5. Thắc mắc cái ĐẢNH bằng thịt hay xương: giữ Ổng lại, Ổng trùm vô mình: lấy TAY rờ thử: TIẾP XÚC VỚI TẤT CẢ Ý TƯỞNG TỐT, VÀ KINH NGHIỆM ĐỘ SANH.
6. Làm một vài việc nhỏ mang tính cách TỪ BI…
7. Hỏi xem câu chú của Ổng là gì: Ổng sẽ thần giao cách cảm với mình về CÁCH ĐỌC THẦN CHÚ, nhớ LẠI cho kỹ và nói lại cho anh em khi cần.
8. Thắc mắc LƯNG Ổng để làm gì? Và ra sau lưng Ổng coi: Hình ảnh đó để độ tử. Đi độ tử, rồi về hỏi Ổng (ở hình ảnh đó): thần chú của Ông lúc này, đọc làm sao?
9. Tương tự như vậy đi hết 6 mặt (trái: TỪ, phải: BI, dưới: HỶ, trên: XẢ).
10. Quán coi hiện giờ AI đang HỘ TRÌ mình? Hỏi họ có cần làm người không? Nếu họ cần: Nhờ họ làm một công việc thiện nhỏ, RỒI ĐỘ HỌ QUA TỊNH ĐỘ. Lúc này HỘ PHÁP VI-ĐÀ mới xuất hiện! (cao khoảng 3 mét).
11. Sau đó làm một vài việc về TỪ, BI, HỶ, XẢ: độ tử, độ sinh (chữa bịnh).
12. Nguyện xin Ổng thể hiện ĐẠI NGUYỆN? Ổng liền xuất hiện trong TAM-THIÊN-ĐẠI-THIÊN-THẾ-GIỚI: TÂM VÔ LƯỢNG, NĂNG LỰC VÔ LƯỢNG. (đàn pháp gốc).
13. Độ liên tục, phân thân lung tung, thuyết pháp trong ĐÀN PHÁP GỐC trên.
14. Nguyện xin Ổng biểu hiện ở PHƯƠNG TIỆN VÔ LƯỢNG: Ổng xuất hiện ở dạng THIÊN-THỦ-THIÊN-NHÃN. (Hình ảnh này không có 6 mặt).
15. Chư vị quỷ thần đến hộ trì mình (tay họ đã cầm chày KIM CANG), họ cao khoảng 10 mét. Thực hiện lại điều (10).
16. Đem THIÊN-THỦ-THIÊN-NHÃN qua đàn pháp gốc (12): Nguyện xin ngài phát Đại Nguyện. TÂM VÔ LƯỢNG + NĂNG LỰC VÔ LƯỢNG + PHƯƠNG TIỆN VÔ LƯỢNG.
17. Dựa vô uy đức của Ổng, nguyện xin cho tu sĩ đi BẤT CỨ nơi nào: SẮC CỨU CÁNH (để học hỏi thêm vài đàn pháp nữa), THẬP PHƯƠNG TỊNH ĐỘ, qua đó xong rồi xin PHẬT ẤN CHỨNG, đi gặp CÁC TỔ: (Ca-diếp, Long Thọ, Milarepa, Babaji…).
18. Lúc này HỘ-PHÁP KIM CANG MẬT TÍCH mới xuất hiện cao khoảng 16 mét. Để phân biệt HỘ PHÁP KIM CANG với chư QUỶ THẦN, tu sĩ căn cứ vô CẶP MẮT của họ:
• Hộ pháp kim cang có cặp MẮT LỒI, tròng đen có VÒNG XOÁY. Khi mở miệng lại PHUN RA LỬA NGỌN. Tay cầm chày KIM CANG màu VÀNG, SÁNG CHÓI.
• Chư quỷ thần có cặp MẮT PHƯỢNG, xếch, không lồi. Khi mở miệng không có lửa.Tu sĩ sẽ tiếp thông được với ĐẠI NHẬT QUANG NHƯ LAI và với TỲ LÔ GIÁ NA, còn phần trước, tu sĩ chỉ mới tiếp xúc được với chư vị BỒ TÁT (để ý đến đảnh của mình là biết liền).
* JNÃNA – PARAMITA *
* Viết xong ngày 28 tháng 6 năm 1991 lúc 12 giờ 10 phút *
Đàn Pháp Om Mani Padme Hùm
Đàn Pháp Văn Thù Sư Lợi - Om Driym
Nhập Tứ Thiền, quán mạn đà la Văn Thù Sư Lợi (hình cô bé trẻ ngồi trên kỳ lân màu xanh da trời, với bàn tay phải có ngón tay út chỉ Hư Không, và bàn tay trái giấu dưới áo).
Khi mình có cái hình Nhất Tự Chú Vương thì mình dùng màn tivi ... chụp hình cái hình đó bằng cách cho vào màn tivi và từ đó đặt câu hỏi thì Ngài trả lời, hay là chỉ giữ Ngài cho lâu thì Ngài sẽ xoa đầu thọ ký, sau đó là mình làm việc về cái Trí Tuệ của Ngài (Chỉ cho người khác tu bằng phương pháp tròn đầy: Kiếp này là xong nếu người đó hội đủ điều kiện, còn chưa xong, vì thiếu điều kiện, thì về Tịnh độ mà dợt cho xong)! Cho nên nếu tính bằng kiếp người thì toàn là dân ... Bất Lai không mà thôi :-)
Là vì, kiếp này là ... kiếp Vô Minh cuối cùng!
Đàn Pháp Phật Mẫu Chuẩn Đề
Quán các mẫu tự của câu chú: Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Taba Ha.
Mạn đà la này có hai phần:

Phần thứ nhất là phần mọc tay (y như cái hình vậy) Những cánh tay này dựa trên căn bản của tỉnh điện được tạo ra từ luồn kundalini.
Hình ảnh được thể hiện nguyên một cái hình Phật Mẫu Chuẩn Đề với 18 tay đầy đủ binh khí và thêm hai con rồng đội cái hoa sen. Chưa hết, trên hào quang lại có câu chú bằng tiếng Phạn, Án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Câu chú đi đúng cái phần không gian của hào quang của Ngài khởi sự từ vai phải và chấm dứt ngay bon vào vai trái của Ngài.
Phần thứ nhì là dùng cách quán tưởng "hai chiều xoay" của các chử trong vòng phép Chuẩn Đề. Không có kinh nghiệm về kundalini thì sẽ không được, khi hành giả khai mở đến chổ này.

1. Nó đòi hỏi một ý chí sắt đá, mà ý chí này chỉ có, khi hành giả đã thành thục về sự khai mở kundalini. Chớ không phải loại ý chí sơ sơ qua những buổi thức khuya trồng cây si ở dưới mưa, hay là cái ý chí của những đêm thức khuya để gạo bài thi ...

Mở ngoặc
Phần này bàn về ***Ý Chí ***: Có thể gọi y ùchi và ví nó như là chữ ***l-ò*** trong cụm từ: Lò nguyên tử vậy:

Lò này chỉ có thể chạy với nhiên liệu đặc biệt dành riêng cho nó mà thôi, tuy cũng gọi đó là cái ***l-ò*** nhưng cái lò này không thể chạy bằng ... cũi được :-). Đóng ngoặc

2. Nó khó làm y như là khi, cùng một lúc dùng cả hai tay để mà vẽ những hình như sau: Trong khi tay trái đang vẽ vòng tròn thì tay phải đồng thời vẽ một hình vuông.

Giới thiệu vòng phép:

Trong vòng phép Chuẩn Đề thì Các Bạn sẽ thấy có một hình toàn bằng chữ không mà thôi. Hình này gồm hai vòng tròn đồng tâm với nhau:

Vòng thứ nhất, ở bên trong, chỉ có một chử độc nhất là chử Om (hay là Aum)

Vòng thứ hai ở bên ngoài (trên cái vành khuyên được tạo bởi hai vòng tròn đồng tâm) gồm tám chử của câu thần chú đó là: Chiết; Lệ; Chủ; Lệ; Chuẩn; Đề; Taba; và sau cùng là chữ Ha (Trong cuốn Kinh Chuẩn Đề Đà La Ni của Thích Viên Đức)

Thực hiện:

Hành giả quán cho ra cái hình này. Sau khi cái hình xuất hiện như thật đằng trước mặt của mình thì động tác kế tiếp là:
Quán phần Chữ OM cho thật đứng im, có nghiã là phần nằm trong cái hình thì đứng im, không nhúc nhích.

Kế tiếp thì quán tám chữ kia, tức là phần ngoài của cái hình.

Hành giả phải quán thế nào cho những chữ này :***quay trên chính nó*** theo chiều ***ngược với chiều kim đồng hồ*** và đồng thời, tám chữ này phải chạy theo cái vành khuyên (phần này được tạo bởi hai vòng tròn đồng tâm) ***theo chiều kim đồng hồ***. Làm được như vậy (có nghiã là cùng một lúc phóng ra ba (3) tư tưởng: Đứng im, Bên trái và Bên phải) thì sẽ được Phật Mẫu Chuẩn Đề xuất hiện và ấn chứng bằng hai cách:
1. Xoa đầu hành giả
2. Là chính Ngài sẽ vẽ lên thân thể của hành giả những chữ này qua những yếu huyệt hay trung tâm năng lực.
Làm không được thì sẽ bị hất văng ra khỏi vòng phép bằng sự tuột định bất ngờ. Tất nhiên là có thể bị bịnh.
Phật Mẫu Chuẩn Đề có cách quán kỳ lạ là: Các chữ tự xoay trên chính nó theo chiều: Ngược chiều kim đồng hồ. Đồng thời cả câu chú lại quay trên một vòng tròn thuận theo chiều kim đồng hồ. Tất nhiên, để làm nỗi chuyện này thì tâm tu sĩ phải vào một tình trạng *Không Chấp phải cũng không chấp trái* thì mới làm được. Mà như vậy chỉ có ông Phật thì mới chơi được mà thôi! Vì vậy mà các Tổ mới đặt tên là: Phật Mẫu Chuẩn Đề (Mẹ của Phật hay đúng ra pháp quán (vision) dễ nói, rất chi là khó làm này sẽ giúp mình thành Phật).
Đàn Pháp Ngũ Phật Trí
Pháp thân Tỳ Lô có thể chứng bằng cách nhập vào các Đàn Pháp. Con đường khá dài, nguy hiểm và đầy dẫy những kỹ thuật: Khi hành giả đổi cung cách tu hành và dùng hình ảnh các biểu tượng để đem áp dụng cái Không Trí vào Thế Sự thì có rất nhiều con đường. Đệ bị ảnh hưởng nặng nề những tiền kiếp nên đã quay lại và khai triển những đàn pháp theo một dạng rất là đặc biệt (dạng hình lập phương: y như cục Rubic vậy). Trình bày một trong những cách nhập vào Pháp Thân Tỳ Lô: Đàn Pháp QTA là bước đầu dễ dàng nhất và không có phản ứng phụ. Sau khi học hết sáu mặt (Từ, Bi, Hỷ, Xả, độ Sinh và độ Tử). Kế đó là thay đổi hệ hộ pháp và đi tìm cho mình một Kim Cang Vương. Tiếp là Qua Tây Phương Cực Lạc để gặp Ngài A Di Đà Phật.

Tiếp nữa là nhờ Ngài A Di Đà Phật giới thiệu cảnh Liên Hoa Tạng Thế Giới: cả ba người trong một cái duỗi tay của Ngài A Di Đà Phật, đã... cùng với Ngài A Di Đà Phật đi vào Pháp Giới Liên Hoa Tạng để gặp Ngài Tỳ Lô Giá Na trong cái núi Tu Di ở ngay giữa Liên Hoa Tạng, núi này cao hơn những núi kia một tý. Sau đó, là quy trình phá Chấp Kim Cang: Hành giả cùng với Kim Cang vương qua Liên Hoa Tạng và quăng chày Kim Cang vào đảnh của Ngài Tỳ Lô Giá Na. Kim Cang Vương không chịu và bỗng nhiên biến thành... Chấp Kim Cang. Vì Ngài mắc quai lời nguyện nên, Ngài đành phải miễn cưỡng qua đó để hộ trì mình.
Phải nói rằng tính phá chấp phải thật là mạnh thì mới dám làm chuyện này trước cảnh hào quang rực rỡ màu xanh của tia hồ quang của Ngài Tỳ Lô mà mình dám quăng chày Kim Cang vào ngay đảnh của Ngài Tỳ Lô. Ba Chày chạm nhau tạo thành âm thanh vốn là Tâm Chú của Ngài Tỳ Lô.

Và sau cùng là cả bốn người là (A Di Đà, QTA, Kim Cang Vương và đệ) trong cái duỗi tay của Phật A Di Đà mà qua đến Liên Hoa Tạng gặp Đức Tỳ Lô để quăng chày khi năm chày gặp nhau và đệ bay theo luôn thì cả năm đều bình đẳng và tan biến trong tiếng nổ Subham. Từ đây, không còn hình ảnh nào mà đệ phải quán tưởng nữa. Câu khái niệm: Phật trong ta, ta trong Phật đã được hoàn thành. Tâm lúc bây giờ rỗng lặng và sự thoả mãn tâm lý này đã dẫn đến trình trạng mà mình thường bàn tán đó là: Thường Lạc Ngã Tịnh.
So Sánh: Như vậy Diệt Thọ Tưởng Định là tình trạng thanh tịnh trong một cảnh nhỏ của Vũ Trụ Quan của Phật Giáo: Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới với chỉ một Trái Đất.
Chứng nhập Pháp Thân Tỳ Lô là một cảnh Thanh Tịnh đối trước Liên Hoa Tạng Thế Giới với hằng hà sa số Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cùng với hằng hà sa số Trái Đất
Mến.
TB: Sự so sánh một cách chính xác thì... đệ chịu vì dụng cụ hiện nay là Ngôn Ngữ. Cách thức là: hãy đến mà xem thì mới rõ được. Nhưng một cách tổng quát và rất là gượng ép thì có thể nói như sau: Cảnh thanh tịnh khi vào diệt thọ tưởng định này có thể ví như mình rất là bình tĩnh khi... cầu chì nhà bị đứt. Còn chứng nhập pháp thân Tỳ Lô Giá Na là mình vẫn bình tĩnh khi bị... động đất, trước cảnh nhà thì xụp, vợ con, bạn bè thì chết.... Cái thanh tịnh thứ nhì này nó đầm hơn vì mình đã có thể đem ra áp dụng nó vào chuyện thế gian.
(Phần Đọc thêm)
Phá chấp... Chấp Kim Cang:
Một hôm, đệ vào Liên Hoa Tạng và thấy rằng Ngài Tỳ Lô lại thành Hắc Bì Phật với tay phải cầm chày Kim Cang và tay trái cầm chuông Kim Cang, Hai tay lại bắt ấn A Xà Lê (cánh tay phải nằm bên ngoài và chéo với cánh tay trái ngay ngực Ngài). Vì thấy Ngài có vũ khí và đệ cũng sẵn cái chày nên đệ... nhắm ngay đầu của Ngài mà quăng liền. Trong chớp mắt một tiếng nổ kinh hồn *Brhum* chấn động cả pháp giới. Hai chày đã đụng nhau vào ngay điểm giữa của quỹ đạo. Có nghĩa là khi đệ quăng chày thì Ngài cũng quăng cái chày của Ngài ra và hai chày đụng nhau vào khoảng giữa của quỹ đạo, tạo thành tiếng nổ *Brhum*. Khi xuất định, đệ vẫn còn ù tai vì âm thanh quá lớn đó nhưng trong thâm tâm của đệ, đệ lại cảm thấy nó thiêu thiếu một cái gì đó. Đệ bèn nghĩ rằng, lần sau rủ Hộ Pháp Kim Cang qua bên đó với ý đồ là lập lại thí nghiệm trên: Hộ Pháp lắc đầu không chấp nhận. Tư Tưởng lại xẹt qua xẹt lại: Đây là một Chấp Kim Cang!!!

Đệ lại hiểu rằng: Kim Cang mà đã chấp thì phải có cái còn cứng hơn Kim Cang để phá cái chấp này!!! Nhưng cái nào lại có thể cứng hơn Kim Cương? À!... Dùng màn TV: Màn TV im lặng, không cho đáp số. Phải mất ba tháng sau, đệ mới tìm ra đáp số để phá... Chấp Kim Cang.
Đệ lại nói với Kim Cang một cách rõ ràng hơn: Không phải tui nhờ ông quăng một mình đâu, nhưng chính tui cũng quăng nữa, như vậy ông có đi không? Chấp Kim Cang lưỡng lự một hồi, nhìn đệ, hả miệng phun lửa ào ào, rồi quyết định:
- Vì tình bạn, ông làm thì... tui làm! Sống, cùng sống! Chết thì cùng chết!!!
Tư tưởng lại xẹt qua xẹt lại: Quả thật, kim cương cứng nhưng tình bạn còn cứng hơn nhiều. Thế là cả hai tên qua đó và khi tác ý quăng chày thì tự động... Hộ Pháp xuất hiện ở ngay đằng sau lưng của Ngài Tỳ Lô Giá Na (mà nay là Hắc Bì Phật) và cả ba cùng quăng chày: Đệ nhận thấy rằng: Chày của đệ bay cong lên cao tạo thành một phần tư vòng tròn (1/4 vòng tròn). Chày của Hộ Pháp cũng vậy. Và chày của Ngài lại bay thẳng góc lên cao... Và ba chày đụng nhau tạo thành âm thanh *Vãm* còn to hơn cả *Brhum* trước đây.
Nhận xét:
Nếu có thể vẽ lại những quỹ đạo của ba cái chày trên thì đệ và Hộ Pháp lại ở trên một Đường Kính và Ngài Hắc Bì
Phật lại là trung tâm. Quỹ đạo 2 cái chày của đệ và của Hộ Pháp tạo thành 1/2 vòng tròn và tất nhiên quỹ đạo chày của Ngài Hắc Bì Phật là đường bán kính thẳng góc với đường kính nối liền đệ và Hộ Pháp. Âm thanh tuy rằng to như vậy nhưng vẫn không làm đệ xuất định. Chứng tỏ mức độ yên lặng của đệ lúc này nó khá hơn trước rất nhiều, và đệ chỉ có nói về âm thanh còn ánh sáng khi ba chày đụng lại thì nó sáng đến mức độ mà mình thấy nó... thành xanh như tia hồ quang, nhưng trạng thái định vẫn không bị lung lay gì cả. Khi xuất định thì đệ vẫn còn cái cảm giác là... đi đúng hướng rồi đó... nhưng... vẫn chưa xong...
Tất nhiên là lần sau, đệ sẽ mời cả bốn người là A Di Đà Phật, Quan Thế Âm, đệ và Hộ Pháp cùng qua bên đó để lập lại thí nghiệm trên, nhưng lần này là với bốn người. Thế là cả bốn người qua tới Liên Hoa Tạng. Và khi quăng thì cả bốn người tự động vào vị trí tứ trụ và năm cái chày chạm nhau trên không trung tạo thành một âm thanh *SuBham* cùng với chấn động và ánh sánh chói chang... Tuy là quang cảnh nó kinh hồn như vậy nhưng tâm của đệ vẫn vững
vàng và không xuất định!!! Chứng tỏ cái sự yên lặng lúc này rất là mạnh. Khi xuất định, đệ lại vẫn còn cái cảm giác là... chưa xong. Nó còn lấn cấn một cái gì đó.
Lần này thì trong tiếng **SuBham** Kinh thiên động địa của năm cái chày hợp lại thì đệ tác ý nhắm ngay vùng chấn động và ánh sáng đó mà lao mình vào luôn, đệ chỉ thấy các Vị kia cũng làm như vậy luôn!!! và chung quanh toàn là ánh sáng trong suốt như được mặt gương đã được lau chùi. Và sau tiếng nổ *SuBham* thì đệ lại hiểu cái ý của Chơn Ngôn này là: "Nó là Như Vậy". Cùng một lúc, cái tư tưởng lại xuất hiện:
Năm Ông đã nhập một, Ngũ uẩn đã giai không, tâm thức đã phản bổn hoàn nguyên.
Và một sự tĩnh lặng vô cùng, ngay khi suy nghĩ về một vấn đề gì thì đệ có cảm giác như tư tưởng nó chạy rất là chậm. Đồng thời, tất cả các hiện tượng đều phản ảnh rất là trung thực và rõ ràng khi tâm thức rơi vào sự "im lặng sấm sét" như vậy. Và cái biết nó càng trở nên bén nhạy.
Sau đó khoảng một tháng thì các hình ảnh của màn TV lại càng có nhiều chi tiết hơn trước nữa. Cô Trang nói là hình ảnh có thể phân bố như là trong chương trình "Picture in picture" của TV vậy. Màn TV trở nên mềm dẻo, nhu nhuyễn và dễ sử dụng hơn nhiều... Câu chuyện đến đây... lại chưa hết vì khi lao vào vùng chấn động đó, đệ mới hiểu tại sao họ lại làm cái chày Kim Cang với hình thức lạ kỳ như vậy.
Tâm Kính Đàn - Màn TV
Chào các Bạn.
Tâm kính đàn là cái rắc rối nhất của Mật Tông. Hai Lúa đệ cũng mày mò và cũng bí như thường. Câu chuyện cũng ly kỳ y như là... chuyện Tề Thiên.
Số là hồi còn ở Đà Lạt thì đệ có quen với một gia đình nọ (người Công Giáo) có biết về thuật Phong Thủy. Và khi an tán mộ cho gia đình thì họ cho đệ biết là nó bị méo 1 tý xíu khi canh cái hòm nhìn vào cái ấn trong 1 cái Long Mạch ở Đà Lạt. Và họ cũng cho đệ biết là nó ăn vào hàng cháu nhưng không được mạnh cho lắm. Và ba tháng sau thì nhóc tỳ P. nhỏ tự nhiên có khả năng thấu thị, chữa bệnh búa xua. Và dĩ nhiên là đệ làm quen với anh chàng nhóc tỳ này.
Và trong khi bàn về Thiên Văn: đệ có chơi 1 trò chơi là dùng ... tâm kính đàn (tự chế) ra để coi những tinh tú trên trời. Đệ nói với P. Nhỏ:
-- Ê, anh tìm ra cách này để nhìn ngôi sao mà không mỏi cổ nè!
P. Nhỏ hỏi:
-- Cách nào?
Và đệ lấy cái xâu chuỗi 18 hột ra và nói P nhỏ nhìn vào cái vòng của xâu chuỗi. P. Nhỏ nhìn vào và thấy y như là mình nhìn vào cái kiếng phản chiếu cả bầu trời và trong đó có những ngôi sao. P. Nhỏ phê bình, cách của anh cũng hay nhưng nó nhỏ quá vì vậy mà không dùng được gì. Đệ thấy cũng đúng. Và cũng không biết làm sao mà Zoom cái hình nó to và nhỏ theo ý mình muốn được.
Đó là giai đoạn đầu của "Tâm Kính Đàn".
Trong nhóm lu bu (nhón cư sĩ tu hành theo kiểu "tu chết bỏ" ở Đà Lạt) lúc bấy giờ còn lèo tèo những nhân vật tự phát. Trong đó có anh Hoà Lùn cũng đang tìm "Tâm Kính Đàn". Anh này thì làm... y kinh: Có nghĩa là sắm một cái gương "chưa có dùng" và tập coi có được gì hay không. Và tất nhiên là thất bại hoàn toàn: Anh ta tập siêng năng nhưng lại không được gì (Hoà Lùn mà đã tập cái gì là phải coi là 24 trên 24).
Thấy vậy đệ có nói cho anh ấy nghe là:
Gương nào mà họ đã chế ra thì đều có người nhìn vào hết, người nhìn đầu tiên là nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm! Do vậy điều kiện mà kinh đưa ra là không thể thỏa được. Phải có 1 cách nào khác để cái gương phải có những tiêu chuẩn sau:
1. Là không bị mất hay bể
2. Ở đâu dùng cũng được
3. Có thể Zoom hình theo ý thích.
4. Ngoài cái Thấy thì lại còn có thể "Nghe" được luôn.
Và dĩ nhiên tu sĩ phải biết: Cơ chế hoạt động của "Tâm Kính Đàn" nó ra làm sao? Thiếu 1 yếu tố là coi như là làm không ra. Thế là đệ coi lại thật là kỹ lưỡng cuốn Đức Phật Và Phật Pháp của Narada do Bác Phạm Kim Khánh dịch (cuốn sách độc nhất của đệ vào lúc bấy giờ). Thì đệ phát hiện ra Đức Phật, khi Ngài chứng các từng thiền, thì Tâm của Ngài lại sạch như "Gương" và tất cả các pháp đều hiện ra "Như Thật". Mừng như vớ được vàng! Đệ biết rằng chỉ có cách này mới có thể tìm và làm được "Tâm Kính Đàn".
"Tâm Kính Đàn" lần đầu tiên hoạt động.
Tất nhiên là muốn cho nó hoạt động thì đệ tu mò muốn tắc thở luôn, vì đâu có ai chỉ cho cái gì đâu. Chỉ dựa vào cái câu trong sách mà thôi. Sau 1 thời gian thì những khả năng tự nhiên phát triển. Thứ nhất là linh tính, cái linh tính nó trúng đến... kỳ lạ.
Chuyện rằng:
Đệ ngồi bật dậy và nói với vợ rằng:
-- Họ đi đến kêu anh đi chữa bệnh, anh đi nghe, nhớ cầu nguyện cho tớ đó!
Vợ cằn nhằn:
-- Ai mà kêu hai ba giờ sáng! Đi ngủ đi!
Nhưng đệ đã leo ra khỏi cửa sổ và đi ra ngoài ngõ và đi xuống đường Hai Bà Trưng. Một chiếc xe honda chạy từ dốc Cẩm Đô lên và đệ ngoắc anh chàng lại và nói:
-- Tui là Phước đây, em anh bệnh ra sao?
Người anh thắng xe lại và... muốn ỉa đùn trong quần:
-- Trời! Danh bất hư truyền, Vậy là em tui hết bệnh rồi!
Tất nhiên đó là hồi đệ còn sung sức, bây giờ thì già rồi và nhất là sau khi chết đi sống lại 4 lần vì tu trật. Nó không còn được như xưa nữa. Kế đó là cái thấy:
Bà xã đi xuống Sài Gòn và khi lên Đà Lạt thì không có nhắn tin hay "đánh dây thép". Đệ làm cho tâm thanh tịnh (thời đó đệ chưa biết đó là "Tứ Thiền Hữu Sắc”) và khi nghĩ về bà xã thì thấy bà xuống xe ngay khách sạn Palace vào ngày mùng 4 Tết hay sao đó lúc 12 giờ 44 phút trưa.
Cách xuất hiện nó như sau: y như là đệ nhìn vào một tấm hình màu: Đệ thấy xe khách ngừng lại và bà xã xuống xe ôm một người đàn ông (người đàn ông đó là đệ) và nói cái gì đó (Lúc này đệ chưa có nghe được).
Tiền cảnh của cái cảnh vợ xuống xe đó là: Một cái đồng hồ điện tử digital có ngày tháng năm cả Âm Lịch và Dương Lịch và giờ thì nó chạy như là đồng hồ bấm giây của các nhà thể thao vậy. Có nghĩa là có giờ (được biểu thi theo dạng 24/24; phút; giây; và sao.
Tất nhiên là đệ đi đón và đúng phóc.
Sau này đệ cố ý đoán sai để bả nhìn đệ ra thằng chồng, chớ không thì bả sẽ không được tự nhiên cho lắm.
Cơ chế hoạt động của "Tâm Kính Đàn"
Nó cũng không có gì là ầm ỷ và siêu nhiên. Chuyện thấy hay nghe đều xảy ra từ cái óc của mình. Do mình nhận kích thích từ bên ngoài qua các giác quan và được chuyển hệ thành giao động thần kinh và từ giai động thần kinh này mình mới thấy, nghe... được. Cũng lợi dụng vào cái đó nên khi tu sĩ có cái tâm thanh tịnh rồi thì khi chú ý đến cái gì thì cái óc nó bị kích thích và nó cho mình thấy, nghe, rờ, cầm... Do vậy chỉ cần vào Tứ Thiền là tâm đã thanh tịnh đủ để kích thích cái óc khi tu sĩ tác ý vào 1 đề tài nào. Tất nhiên, nó đều có mức độ sâu dầy của nó: Để cho dễ hiểu thì các Bạn nên đụng bàn tay lên cái đầu của mình trước và đọc:
Trước nhất là cái linh tính:
Tâm đã tới Tứ Thiền thì bộ óc nó nhạy cảm nhưng chưa thấy gì được. Có nghĩa là bộ óc đã thanh tịnh nhưng chưa đụng con mắt.
Sau đó là Bạn đem bàn tay xuống 1 tý và đụng tới cặp mắt và đọc tiếp:
Kế đó là vì độ thanh tịnh nó sâu hơn nên nó lấn xuống tới cặp mắt. Vì thế lúc này mới có thể thấy được.
Tiếp theo là lấn xuống lỗ tai. Vì thế mà có thể nghe được.
Sâu hơn nữa là tới lỗ mũi. Vì thế mà có thể ngửi được.
Và sau đó là rờ được và có thể xô hay nâng được.
Trên đây là tự phát nên nó lộn xộn và không có phương pháp cho rõ. Sau này đệ chia ra thành từng phần để tu sĩ khác có thể tập được dễ dàng hơn, đệ chia ra như sau:

1. Dùng đề mục để chứng các từng thiền
2. Quán một cái màn ảnh như màn ti vi to cỡ 9cm x 12cm
3. Sơn cho màn ti vi đó nó có màu trắng y như hột gà luộc và bóc vỏ.
4. Giữ cái màn ti vi này 24 trên 24 trong vòng 1 tuần.
5. Sử dụng cho việc đời thì Màn ti vi lại nằm ngang (tự động)
6 Sử dụng cho việc Đạo thì màn ti vi lại dựng đứng (cũng tự động).
Nhiên liệu để chạy màn tivi hay là "Tâm Kính Đàn":
1. Giữ giới luật cho thật là ngon lành.
2. Kiểm tra tư tưởng liên tục (có nghĩa là không có chuyện giải lao)
3. Và Thiền Định.
Đàn Pháp Quan Thế Âm (mới)
Bước thứ nhất:
Đọc đều đều trong tâm câu: Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Vừa đọc vừa nhắm mắt, vừa dùng trí tưởng tượng vẽ ra một hòn bi màu vàng hoa quỳ, ngay đằng trước mặt, ngang với tầm nhìn. Sau khi hòn bi xuất hiện như thật ngay đằng trước mặt thì tiếp tục vẽ một hòn bi thứ hai và cứ tiếp tục như vậy cho tới khi đủ một vòng tròn gồm 18 hòn bi.

Khỏi nói, Huynh cũng có thể hiểu đây là mình tạo ra trong trí tưởng tượng của mình... một xâu chuỗi 18 hột bằng câu niệm trên. Chú ý: khi hòn bi đầu tiên xuất hiện rõ ràng thì Huynh mới vẽ tiếp hòn bi thứ hai, hòn bi này nằm bên trái hòn đầu tiên và cứ thế mà vẽ cho tới khi có đủ một vòng tròn gồm 18 hòn bi.
Bước thứ hai là:
Là ngay giữa hòn bi thứ nhất và hòn bi thứ 18, ở phía trên một tý Huynh tiếp tục vẽ cũng bằng trí tưởng tượng một hòn bi thứ 19 (vốn là hột châu mẫu).
Bước thứ ba là:
Với 19 hòn bi màu vàng xuất hiện đằng trước mặt mình như thật như vậy, Huynh hướng cái tầm nhìn vào hột châu mẫu. Hột châu này càng ngày càng chiếu sáng, khi cảm thấy rằng nó sáng lắm rồi thì đọc câu: nguyện xin thể hiện.
Thì đối với Cô Vân:
Hột châu mẫu biến mất và một cảnh tượng cứu độ của Ngài Quan Thế Âm như sau: trong cảnh tranh tối, tranh sáng, có một đám đông ăn bận rách rưới và nghèo khổ, họ dơ tay lên trời và kêu gào thảm thiết. Một vùng ánh sáng xuất hiện và trong vùng ánh sáng này tất nhiên là Ngài QTA đang cầm bình cam lồ và nhành dương liễu: Ngài rảy nước tới ai thì người đó ăn bận lành lặn và yên bình tới đó...
Đối với Cô Trang thì:
Ngài QTA xuất hiện tay trái nâng cái hư không ngang tầm bụng, tay phải lại bắt ấn cam lồ, Ngài xuất hiện tới đâu thì đám đông đang đau khổ, kêu gào thê thảm, bỗng nhiên biến mất dưới hào quang phóng ra từ toàn thân của Ngài.
Đối với đệ:
đệ là... QTA ở tư thế thiên thủ thiên nhãn, thân hình to lớn và cao vời vợi. Chung quanh đệ là có một vùng ánh sáng khá rộng và ngoài vùng ánh sáng này là cảnh tấn công biển người, họ nhiều như kiến, họ tràn vào vùng ánh sáng từ khắp nơi, hễ mà họ đụng tới vùng ánh sáng này thi họ liền biến mất! Chưa hết, từ đảnh của đệ phóng ra một tia hào quang màu vàng, tia này quét tới đâu là đám đông trống trơn tới đó.
Quán Đảnh
Nghi lễ quán đảnh là giới thiệu tu sĩ với dòng pháp.
Một ví dụ (kèm theo chuyện xảy ra đằng sau hậu trường): Khi trao truyền một hình ảnh để quán thì thiền sư phải vừa nói và vừa làm. Trong khi ấy thiền sinh thì chú ý lắng nghe và cảm nhận được một nỗi vui mừng như sắp đón người thân, lâu ngày không gặp, tới chơi vậy. Một cách khác: Khi nghe hay đọc một câu chuyện gãi đúng chỗ ngứa của mình thì mình thấy đã đã và vui vui. Chuyện đằng sau hậu trường. Lúc này do pháp khí (tình trạng tâm lý được gãi đúng chỗ ngứa) trên nên sự chuyển biến của thiền sinh được thiền sư thấy rất rõ ở cái hào quang. Khi nhận thấy rằng Thiền Sinh bỗng nhiên chuyển hoá hào quang khi nghe thuyết pháp thì tuỳ vào màu sắc của hào quang đó mà thiền sư hiểu rằng:
1. Thiền Sinh này chỉ hỏi vì tò mò: Hào quang màu vàng ngà ngà (vàng kem). Thiền sư biết ngay rằng: mình không phải là Thầy của vị này và vị này chưa có duyên với
phương pháp này.
2. Thiền Sinh này hỏi vì thật sự đang cầu học và đang bí lối: Hào quang bỗng chuyển ra màu vàng hoa quỳ (vàng khè) và sáng bóng. Tất nhiên, thiền sư hiểu ngay rằng: mình là "Người Hướng Dẫn" của vị này. Và vị này nếu về *nhà_mà_tập_liền_ngay_lập_tức* cách thức vừa mới được trình bày ở trong bài thuyết pháp, thì: vị này sẽ tiến triển nhanh như chớp.
Lúc này, Thiền Sư "mới_đọc_trong_tâm" câu: Các chư Tổ, Thầy kiếp này, kiếp trước, vô lượng kiếptrước đã hộ trì cho con tu tập cho đến nay an toàn và tinh tấn như thế nào thì xin các Ngài cũng hộ trì cho (họ và tên của thiền sinh) cũng được như thế. Nguyện xin cho vị này khi tu tập được bình an: đêm bình an, ngày bình an, đêm và ngày đều bình an.
Đọc xong thì thiền sư lại thấy ngay trong màn tivi của mình nguyên cả hệ thống quán đảnh của ngay trên đảnh của thiền sư được "photocopy" sang đảnh của thiền sinh. Làm được như vậy thì nghi thức quán đảnh mới thật sự là quan trọng.
Kết quả:
Chỉ cần sau lần tập đầu tiên (theo kiểu: về_nhà_tập_ngay) thì thiền sinh sẽ tiến triển vượt bực liền. Và có 2 trường hợp lại hay xảy ra:
1. Một thời gian sau (thông thường một, hai năm gì đó): Thiền Sinh mới có thể tự thấy hệ thống hộ trì của mình nằm ngay trên chính cái đảnh của mình, ở tầm nhìn lên với độ dóc khoảng 60 độ. Thiền sinh sẽ thấy rằng có một chuỗi những người ngồi (hay đứng) trên hoa sen năm cánh, theo kiểu người này lại ngồi trên đảnh của người kia. Và tất nhiên, người thấp nhất là người hướng dẫn mình tu tập (một cách khác là Thầy của mình), còn người cao hơn tất nhiên là Thầy của Thầy mình và cứ thế mà tính lên.
2. Có thiền sinh, rất là đặc biệt và hiếm, lại thấy rằng người gần kề cái đảnh của mình nhất lại... không phải là người hướng dẫn mà lại là một vị khác. Một thời gian sau thì họ mới vở lẽ ra rằng: người hướng dẫn cho mình lại là một... hoá thân của một Bồ Tát nào đó. Tuy vậy bài tập tự nhìn vào đảnh của mình lại là một bài pháp rất là khó làm và rất là thú vị. Còn gì ngon lành hơn là từ nay mình đã biết được Thầy của mình là ai, tổ của mình là ai và nhất là phương pháp này từ đâu mà ra.
Mến.

TB: Tuy vậy, khi khởi tập thì đệ lại không có được ai quán đảnh cho cả. Đệ cứ một mặt làm việc bất vụ lợi (châm cứu) rồi... tu đại. Thì Các Ngài bỗng nhiên xuất hiện và chỉ cho đệ, Các Ngài thường nhập đề là: "tui không phải là Thầy của ông"... và sau đó là một câu chìa khóa cho vấn đề đang bị bí lối. Do vậy, nói rằng chưa quán đảnh mà tập bừa rồi đi xuống Địa Ngục thì chắc đây là một câu của học giả nào đó viết kèm vào để hù thiên hạ chăng và cũng như để tăng uy tín của vị Thầy nào đó chăng?
Vì đệ biết rằng: Nếu mình tác pháp sai thì tu tập lại không có kết quả. Chỉ có vậy thôi. Như vậy, ở đây câu: "đem cát nấu cơm" lại đúng hơn là câu: "bị đoạ Địa Ngục". Và nếu mình là một người... tốt, mà cứ lì lợm húc bừa thì Các Ngài sẽ tự động xuất hiện ra chỉ bày vì... đó là bổn nguyện của Các Ngài.
Từ đó, dòng Kagyu ngồi trên đảnh của đệ. Trên đảnh của đệ có 6 Ngài (Mà Anh Sơn gọi là 6 ông Phật): Ngài gần nhất là Milarepa, kế đến là Gampopa, Marpa, Naropa, Tilopa, rồi Hắc Bì Phật.
Hàn Hào Quang
Hào quang thường phản ảnh về tình trạng sức khỏe, tinh thần và tư tưởng. Và khi nhìn vào cấu trúc của hào quang sẽ thấy được tình trạng của Tâm và tâm lực. Khi nó đến việc hàn hào quang là vì hào quang bị những trường hợp sau đây:
• Tan vở thành nhiều mảnh vụn (trường hợp ngài QTA)
• Rách do ma nhập hay do bệnh đằng dưới
• Khuyết lỏm do bị cảnh giới chi phối
• Khuyết lỏm hay rách do bị bệnh lâu ngày
Ngài Vajrapani Kim Cương Thủ là chuyên gia về hàn hào quang, ngài đã hàn hào quang khi ngài QTA bị bể đầu thành nhiều mảnh vụn vì nãn chí việc cứu độ chúng sanh do cứu hoài mà thấy còn hoài. Ngài QTA âm đã cầu cứu đến thầy mình là A Di Đà Phật và nhờ lực của Thập Phương Chư Phật biến thành QTA có 11 đầu, dưới cái đâù cuả Adiđà là đầu cuả ngài Vajrapani, còn có tên khác do anh em Lubu gọi là ông Thần Xanh. (Xem Thêm Thiên THủ Thiên Nhãn).
Phương pháp như sau:
• Ngài Vajrapani dùng …
NU nhờ ngài Thần Xanh phóng quang từ trung tâm Ajina của ngài để hàn hào quang cho mẹ.
• VBT dùng chày kim cang để hàn hào quang, cầm chày tô lên những chỗ lỏm, rách giống như là cầm bút lông tô màu vậy.
Cách thứ 2 là dùng hào quang của chính mình hàn lại cho đối tượng.

Sạc Pin Nhật Nguyệt
Với những hành giả, sau khi vào Tứ Thiền, vì có nhiều việc phải làm: Độ sanh, độ tử, giải oan, giải nạn và cõng nghiệp cho người khác sẽ làm mất maú và tiêu hao năng lượng rất nhanh. Người lúc nào cũng lừ đừ bơ phờ, mặt mày xanh xao, không muốn ăn.
Trong trường hợp này ngoài việc ăn uống bồi bổ cơ thể và nghỉ ngơi dưỡng sức, tu sĩ cũng có thể dùng những phương thức đặc biệt:

- Phương pháp Sạc Pin Nhật Nguyệt:

Quán màn TV, quán chính mình vào, tay trái cầm mặt trời, tay phải cầm mặt trăng; dùng năng lượng ánh sáng của mặt trời và mặt trăng chiếu vào cái thấy là hành giả, âm dương trong người sẽ được bồi bổ và điều hòa. Việc sạc pin sẽ rất hiệu quả khi mất năng lượng không dưới 50%. Ngoài ra với tu sĩ đã mở được kundalini (nội hoả), sẽ dùng phương thức ăn ánh sáng.

- Hấp Thu Ánh Sáng:

Tu sĩ có thể khởi động Kundalini, thu nạp ánh sáng vào hệ thống luân xa trong cơ thể của tu sĩ, nặng lượng cuả ánh sáng này rất là thuần khiết sẽ giúp cho cơ thể cuả tu sĩ phục hồi một cách nhanh chóng.
Phương Pháp Thực Hành
________________________________________
Các pháp thực hành sau đây là kinh nghiệm và chứng nghiệm của chính bản thân chú Tibu và nhiều hành giả tu tập theo sự hướng dẫn của chú Tibu, chứ không phải là những lý thuyết suông. Đúng với câu "Nói việc mình Làm và Làm việc mình Nói".
Giới Định Huệ
Thực hành mà không có một phương hướng và nhất là một phương pháp rõ ràng và đầy đủ, thì tỷ lệ bị rơi vào "Tình_Trạng_Rối_Loạn_Pháp_Môn" rất là cao và khó có thể thoát được. Y như một con chó khi bị mấy con chó khác cắn hội đồng. Nó sẽ cắn bên phải một phát, rồi đớp bên trái một miếng thì nó sẽ chết. Nhưng nếu nó biết cách mở đường máu, chỉ tấn công về một hướng thì tổn thất sẽ ít hơn và khả năng thoát khá cao. Như vậy, thực hành theo kiểu "nghe đâu tập đó", hay "vui đâu tập đó", hay tập vì có một số khá đông đang tập và đang hoan hô phương pháp này... thì kết quả, nếu có, sẽ không là bao nhiêu, mà phải y như là lời nhắn nhủ của Thầy Milarepa:

"Phải có một phương pháp tối thượng và một vị Thầy kề cận thì các con mới đạt được mục đích tối hậu của mình".

Hay là lời của Bổn Sư: Phương pháp mà các ông có dịp trình bày phải được:
- Hoàn hảo ở giai đoạn đầu (được hiểu là Giới).
- Hoàn hảo ở giai đoạn giữa (được hiểu là Định)
- Hoàn hảo ở giai đoạn cuối (được hiểu là Huệ)

Kết luận:
Không phải đụng đâu tập đó, mà có thể thành công được mà phải có một phương pháp có tính xuyên suốt, rõ ràng và hoàn hảo ở ba giai đoạn: Giới, Định, Huệ.
Với phương pháp tối thượng này thì khả năng thành công mới nhiều được. Như vậy, vì căn tánh chậm chạp (2500 năm rồi mà vẫn chưa xong) bọn mình nên tận lực thực hành và cố gắng... hết sức thì mới có thể thành công được.
Giới Luật:
Hoasentrenda chủ trương là tu sĩ phải trang bị hai điều kiện:
1. Ăn Ngay Nói Thật
Trung bình thì một người hay nói xạo một ngày một lần (theo đài truyền hình PBS điều tra). Tuy nhiên đó là chuyện bên Mỹ. Nhưng ở những vùng chạy gạo như... đà điểu thì không nói xạo thì... diệt vong luôn đó chớ đừng có nói là chỉ riêng một mình mình chết mà thôi!
Nhưng khi tu hành thì lại phải giữ giới.
Đây là thế kẹt.

Tuy nhiên, vẫn có thể gở được một phần nào!
--Chọn người để nói thật:
Nếu mình chọn một người trong gia đình của mình, thế nào cho: Hể mà mình nói chuyện với nhân vật này thì mình lại nói thật.
Làm được như vậy thì ngoài đời mình có nói xạo thì chính nhờ vào người này mà mình lấy lại được thăng bằng.
--Chọn một nơi để nói thật:
Hay là mình chọn một chỗ trong nhà mình, nếu mà bị hỏi, hay là chuyện trò ngay nơi này thì mình lại nói thật.

Chỉ có hai cách này mà thôi.
2. Có Hiếu với Cha Mẹ.
Coi cha mẹ là trên hết, quyết định đứng đắn của cha mẹ được tôn trọng cho đến cùng. Cha mẹ nói đúng là mình làm liền, vì coi cha mẹ là tối thắng nên ý của cha mẹ nhiều lúc không phải ý của mình thì phần đông mình cũng phải làm cho được luôn mới thôi.

Hết.
Phương Pháp Thực Hành
________________________________________
Các pháp thực hành sau đây là kinh nghiệm và chứng nghiệm của chính bản thân chú Tibu và nhiều hành giả tu tập theo sự hướng dẫn của chú Tibu, chứ không phải là những lý thuyết suông. Đúng với câu "Nói việc mình Làm và Làm việc mình Nói".
Giới Định Huệ
Thực hành mà không có một phương hướng và nhất là một phương pháp rõ ràng và đầy đủ, thì tỷ lệ bị rơi vào "Tình_Trạng_Rối_Loạn_Pháp_Môn" rất là cao và khó có thể thoát được. Y như một con chó khi bị mấy con chó khác cắn hội đồng. Nó sẽ cắn bên phải một phát, rồi đớp bên trái một miếng thì nó sẽ chết. Nhưng nếu nó biết cách mở đường máu, chỉ tấn công về một hướng thì tổn thất sẽ ít hơn và khả năng thoát khá cao. Như vậy, thực hành theo kiểu "nghe đâu tập đó", hay "vui đâu tập đó", hay tập vì có một số khá đông đang tập và đang hoan hô phương pháp này... thì kết quả, nếu có, sẽ không là bao nhiêu, mà phải y như là lời nhắn nhủ của Thầy Milarepa:

"Phải có một phương pháp tối thượng và một vị Thầy kề cận thì các con mới đạt được mục đích tối hậu của mình".

Hay là lời của Bổn Sư: Phương pháp mà các ông có dịp trình bày phải được:
- Hoàn hảo ở giai đoạn đầu (được hiểu là Giới).
- Hoàn hảo ở giai đoạn giữa (được hiểu là Định)
- Hoàn hảo ở giai đoạn cuối (được hiểu là Huệ)

Kết luận:
Không phải đụng đâu tập đó, mà có thể thành công được mà phải có một phương pháp có tính xuyên suốt, rõ ràng và hoàn hảo ở ba giai đoạn: Giới, Định, Huệ.
Với phương pháp tối thượng này thì khả năng thành công mới nhiều được. Như vậy, vì căn tánh chậm chạp (2500 năm rồi mà vẫn chưa xong) bọn mình nên tận lực thực hành và cố gắng... hết sức thì mới có thể thành công được.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Tu Mật Tông Phật Giáo theo Thầy Hai Lúa Hoa Sen Trên Đá   Tue Feb 07, 2012 5:24 am


Giới Luật:
Hoasentrenda chủ trương là tu sĩ phải trang bị hai điều kiện:
1. Ăn Ngay Nói Thật
Trung bình thì một người hay nói xạo một ngày một lần (theo đài truyền hình PBS điều tra). Tuy nhiên đó là chuyện bên Mỹ. Nhưng ở những vùng chạy gạo như... đà điểu thì không nói xạo thì... diệt vong luôn đó chớ đừng có nói là chỉ riêng một mình mình chết mà thôi!
Nhưng khi tu hành thì lại phải giữ giới.
Đây là thế kẹt.

Tuy nhiên, vẫn có thể gở được một phần nào!
--Chọn người để nói thật:
Nếu mình chọn một người trong gia đình của mình, thế nào cho: Hể mà mình nói chuyện với nhân vật này thì mình lại nói thật.
Làm được như vậy thì ngoài đời mình có nói xạo thì chính nhờ vào người này mà mình lấy lại được thăng bằng.
--Chọn một nơi để nói thật:
Hay là mình chọn một chỗ trong nhà mình, nếu mà bị hỏi, hay là chuyện trò ngay nơi này thì mình lại nói thật.

Chỉ có hai cách này mà thôi.
2. Có Hiếu với Cha Mẹ.
Coi cha mẹ là trên hết, quyết định đứng đắn của cha mẹ được tôn trọng cho đến cùng. Cha mẹ nói đúng là mình làm liền, vì coi cha mẹ là tối thắng nên ý của cha mẹ nhiều lúc không phải ý của mình thì phần đông mình cũng phải làm cho được luôn mới thôi.

Hết.
PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU THÂN

A. TƯ THẾ THIỀN: Nhớ để nguyên CÁI LƯỠI tiếp xúc với HÀM ẾCH.

1. Định nghĩa: Là một tư thế ĐƠN GIẢN, thăng bằng, an toàn, ít bị mỏi.
2. Phân lọai: Có hai tư thế thường dùng: NGỒI & NẰM.

• Ngồi: Ngồi ở đâu, như thế nào cũng được, miễn an tòan thôi. Nếu thích ngồi BÁN GIÀ thì nên theo cách đã được trình bày ở các sách HATHA YOGA (Nhớ để bàn chân PHẢI trên bàn chân TRÁI). Nếu chọn tư thế ngồi trên ghế thì để hai gót chạm nhẹ vào nhau.
• Nằm: Nằm ở đâu, như thế nào cũng được, miễn an toàn thôi

3. Phương Hướng: Có những người không hề bị DỊ ỨNG thì sẽ có (4) cảm giác chính sau:

• Cảm giác không ĐÃ, hay không AN TOÀN khi quay mặt về hướng đó.
• Khi công phu BỊ VẶN CỔ một cách đột ngột về một hướng khác.
• Cảm giác NHƯ BỊ NGHIÊNG, mà thật ra mình ngồi rất thẳng.
• Cảm giác LẮC LƯ nhẹ nhàng, ngay cả lúc nằm cũng vậy.

4. Giải quyết: Cứ XOAY từ từ cả thân hình qua hướng khác (nhớ xoay theo chiều kim đồng hồ).
Ví dụ: Nếu lần này ngồi ở hướng BẮC thì tới lần công phu sau sẽ ngồi quay mặt về hướng ĐÔNG BẮC. Nếu lại không được, thì ở lần sau, ta lại xoay qua hướng ĐÔNG…

B. THƯ GIÃN:

1. Định nghĩa: Là không gồng bất cứ bắp thịt nào KHÔNG CẦN THIẾT trong lúc công phu: Vẫn giữ hàm răng KHÍT, cả cái lưởi tiếp xúc với hàm ếch (nóc vọng).
2. Mục đích: Tránh VỌNG NIỆM thường xuất hiện vào lúc mới vô công phu.
3. Thả tất cả các bắp thịt từ đầu ngón chân, qua các khớp, lên đến đầu. Nếu trong lúc buông thả mà có chỗ nào bị trở ngại thì:
Gồng nhẹ nó lên rồi thả ĐỘT NGỘT (Như 1 sợi dây đang căng bị cắt đứt đột ngột !). Điều thân cho ngon lành đã, rồi mới thực hành TIẾP TỤC…
C. BUÔNG XẢ

1) Buông xả mọi việc và ý tưởng.
Đã buông xả thì buông xả thể xác trước, rồi tới tư tưởng sau: Thì mới đi xa được. Cách buông xả của Hai Lúa tui, khi ngồi, như sau: Từ tư thế ngồi cứ một hơi thở hít vô rồi thở ra, tui để ý đến ngón chân và khi thở ra: tui buông thả nó, xong tới bắp vế, rồi tới đùi, hậu môn hí hí, vai, cổ hơi cúi đầu xuống (Gặp càm, nhẹ thôi!), Dùng đầu như “đội trần nhà sẽ làm xương sống thẳng một cách tự nhiên.
2) Đếm hơi thở
Sau đó tui đếm hơi thở như sau: Hít vào thở ra, tui tưởng tượng vẽ một con số trong các loại đồng hồ điện tử xuất hiện đằng trước mặt như sau (y chang).
___ ___
| , ___| , ___| ... cho tới 12.
| |___ ___|
Lập đi lập lại ba chu kỳ, những con số chỉ cần xuất hiện “Mờ Mờ” thôi là đủ rồi vì đây chỉ là chước để làm cho tâm quên đi những việc thường ngày thôi (buông xả tư tưởng)

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TỨC

A. Định nghĩa:

Là sự chú ý vào sự RA, VÔ của hơi thở, dựa vô đó có thể thư giãn được dể dàng hơn, chỉ đưa tu sĩ tới CẬN ĐỊNH thôi, đừng qúa tin vô kinh sách.

1. Sự phân bổ khí lực:
Khi hít VÔ: Khí lực bị CHẬN ĐỨNG.
Khi thở ra: Khí lực được LƯU THÔNG.
Vì thế, nên thư giãn các cơ bắp vào lúc: THỞ RA (thở ra dài hơn hít vô).

2. Mục đích: Nối tiếp tình trạng CẬN ĐỊNH với CHÁNH ĐỊNH:
Từ CẬN ĐỊNH qua CHÁNH ĐỊNH là qua hai trạng thái tâm lý rất khác nhau:
• Ở cận định: THAM DỤC còn rất nhiều (không thể hết được!).
• Ở chánh định: THAM DỤC càng ngày càng mật đi (tùy theo độ nhập định).
Nên khi đi từ cận địn đến chánh định, ta sẽ không tránh khỏi một sự đảo lộn về tâm lý. Như chúng ta sẽ thấy như sau:

*** BẤT CỨ SỰ DAO ĐỘNG TÂM LÝ NÀO ĐỀU DẪN ĐẾN VẤN ĐỀ: tuột định. ***

Do đó nên giải quyết như sau:

3. Thực hành:
Với hai ngỏ vô (mũi, miệng) và hai chỗ chứa (phổi, bụng), ta có ngay sự phân bố về đặc tính ÂM (-), DƯƠNG (+) như sau:

Mũi (+) --- VÔ --- (-) Miệng

PHỔI (+) --- CHỨA --- (-) BỤNG

Ta nhận xét như sau: nếu khi thở, mà dùng MŨI với PHỔI là thuần DƯƠNG (+,+):
Ta sẽ bị nóng tính, hồi hộp, dễ kích động, KHÓ THƯ GIÃN…
Nếu khi thở có sự phối hợp giữa MIỆNG và BỤNG là thuần âm (-,-):
Ta sẽ bị: chết vì kiệt, hay yếu xìu, bệnh nặng…

Vì vậy: Ta nên dùng MŨI và BỤNG: Âm dương điều hòa: (+,-) là hơi thở TRẺ THƠ!

CHÚ Ý TỚI HƠI THỞ RA nhiều hơn HÍT VÔ (thở DÀI ra nhưng đừng quá mức).

Cố gắng tưởng tượng ra những con số của đồng hồ ĐIỆN TỬ từ 1 tớ 12 ứng với từng hơi thở ra, vô. Nên nhớ cứ một lần VÔ, RA là một con số lại hiện ra.
Ví dụ: Nhắm mắt lại, khởi sự bằng hơi HÍT VÔ, khi THỞ RA lại tưởng tượng:
• Con số xuất hiện (mờ mờ) ngay đằng trước mặt trong một khung hình nhỏ.
• Lập lại ba (3) chu kỳ; mỗi chu kỳ gồm 12 con số hay 12 HƠI THỞ.
• Chú ý đến việc TÁC Ý vô những con số đó để làm cho chúng RÕ lên.
• Nên thở chậm thôi, cố gắng phồng BỤNG lên khi hít VÔ. RỒI SẼ QUEN
HỘ THÂN

Giúp ta thực hiện công phu AN TOÀN hơn, khi hộ thân KỸ LƯỞNG, những luân xa sẽ được KHÉP CHẶC lại và tránh tình trạng xuất hồn mà không TỰ CHỦ được.
Công Thức Hộ Thân:
- Con Gái:
Quán cho được một chữ AUM (ÔM) ngay CƠ QUAN SINH DỤC.
hay đọc câu: AUM, KRODANA HUM JAH (7 lần), vừa đọc vừa nhìn nó để TẨY UẾ + tránh CẢNH GIỚI CHI PHỐI khi công phu. rồi hộ thân tiếp như con trai. (Đọc thêm: Hộ Thân cho Phái Nữ)
- Con Trai: Vô theo cách BÌNH THƯỜNG:

Thần chú: Om, Driym (ôm dri - dim).
BẮT ẤN:
Thường, nên tìm tu sĩ tu đắc pháp Mật-tông để truyền ấn thì ấn pháp có tác dụng mạnh hơn. Nếu không có duyên thì tự phát bi nguyện rồi tự tập bắt ấn lấy.
- Chắp 2 tay, co 2 ngón trỏ y như hình, ngón trỏ phải nằm trên ngón trỏ trái.
- Hai ngón cái thẳng, trám kín vòng cung của ngón trỏ phải.
- Chạm ngón cái của khế ấn vô 6 chỗ trên thân thể.
Chạm nhẹ ẤN vô 6 chỗ sau: Vừa chạm nhẹ, vừa đọc trong tâm câu chú: VỚI TẦN SỐ CAO

1. giữa THÓP. (Huyệt Thần Đỉnh, trong các sách châm cứu có nói tới).
2. giữa TRÁNG. (Huyệt Ấn đường).
3. giữa chỗ LỎM ngực PHẢI. (Huyệt Vân Môn).
4. giữa chỗ LỎM ngực TRÁI. (Huyệt Vân Môn).
5. giữa NGỰC. (Huyệt Chiên Trung).
6. giữa MIỆNG.

(Thực hành 7 chu kỳ)
Đọc Lời Nguyện trầm nhất
• Nguyện xin ĐẠI TRÍ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT hộ trì cho con trong buổi công phu hôm nay được yên ổn và bình an.
• Nguyện xin các chúng HỮU TÌNH cùng tu hành với con đều được bình an
• Nguyện xin các chư vị HỘ PHÁP, HỘ ĐẠO TRÀNG đẩy lui tất cà các ác đạo, ác tâm, ác nghiệp ra khỏi chốn đạo tràng (chỗ tu).
• Nguyện xin các chư vị THANH TỊNH, ĐẠI THANH TỊNH.
Hộ thân là một xảo thuật (lấy "Huyễn Trị Huyễn") trong Mật Tông. Nó có tác dụng là bảo vệ cái hào quang và khép lại những trung tâm năng lực của mình. Nó còn có tác dụng là kêu gọi những vị Hộ Pháp Kim Cang đến để bảo vệ mình khi mình tu hành.

ẤN KIM CANG ĐỊNH TRONG CÔNG PHU
Ấn (theo thủ hiệu OK) còn gọi là "Kim Cang một tay" đó là ngón tay trỏ đụng ngón tay cái tạo thành một vòng tròn và các ngón tay kia thư giãn theo kiểu vừa phải.
Ấn Kim Cang hai tay: Với tâm lực của tu sĩ thì dùng ấn này nó ngon lành hơn cái ấn kim cang một tay.
Thiết lập: Tay phải bất ấn "Cam Lồ": Ngón áp út đụng với ngón cái tạo thành một hình vòng tròn các ngón tay kia lại thư giãn một cách vừa phải.
Tay trái bắt ấn "Dược Sư" ngón tay giữa đụng với ngón tay cái tạo thành một vòng tròn, các ngón tay kia lại thư giãn vừa phải.
Kiết ấn:
Hai tay lại để ngửa, các đầu ngón tay hướng vào nhau.
Động tác kế tiếp là: tu sĩ cứ một mạch đẩy cho hai bàn tay khít lại với nhau, các ngón tay sẽ tự động xen kẽ: ngón trên, ngón dưới một cách hài hoà và tự nhiên.
Động tác cuối cùng là: Thả hai cái vòng ở hai bàn tay đó ra và để hai đầu ngón cái đụng nhau và nằm trên trỏ phải thì đây là ấn Kim Cang hai tay.
Chú ý:
Trong điều kiện này: Ngón trỏ của bàn tay "Phải" sẽ nằm trên ngón trỏ của bàn tay "Trái". Ngón giữa phải lại nằm **dưới** ngón giữa trái... và....
• Khi bắt ẤN 2 bàn tay đụng nhẹ nhau như KẸP 1 TỜ GIẤY HÚT THUỐC LÁ
• Nên đọc từ từ kỹ lưởng, đọc tới đâu làm tới đó.
XẢ ẤN:

Đem ẤN ĐỤNG DA ĐẦU RỒI MỚI XẢ.

Chú ý: Hộ thân trên chỉ tác dụng lên hệ thần kinh.
Ứng với tình trạng tu cao cấp (từ Tam thiền trở lên), tu sĩ phải quán một hột vịt đứng (hai đầu to bằng nhau) màu vàng trong đó có một người ngồi bắt ấn hộ thân và quán cho họ thực hiện lại những động tác hộ thân vừa nêu trên. Hộ thân này rất tốt với hào quang của tu sĩ. Nên nhớ cho kỹ rằng: Mỗi lần đọc một câu chú để hộ thân, hột vịt lại lóe hào quang. Căn cứ vào mức độ lóe sáng đó, tu sĩ biết được độ vững chắc của sự hộ thân.
XẢ THIỀN THEO THẦY MILAREPA
Thu, 24 Apr 1997 12:26:13
Xin chào quý Bạn.
Xả thiền là một giai đoạn chuyển tiếp từ một trạng thái Định tỉnh sang một trạng thái Động, cơ thể (hệ thần kinh) cần phải có một thời gian để chuẩn bị. Xả Thiền là một yếu tố rất quan trọng y như là khi chúng ta đổ nước nóng vào một cái ly đang lạnh vậy. Nếu chúng ta đổ liền một phát: Ly sẽ bị nứt hay bể. Nếu trái lại chúng ta đổ từ từ, vừa đổ vừa lắc đều thì chúng ta sẽ tránh được những điều đáng tiếc. Ở mức độ Cận Định sự xả thiền dường như không cần thiết lắm. Nhưng ở mức độ nhập định cao hơn (Tam Thiền tới Tứ Thiền Hữu Sắc) hành giả sẽ bị choáng váng khi xả thiền một cách đột ngột, hiện tượng này sẽ tác động vào hệ thần kinh và sẽ làm cho hành giả tự nhiên đau đầu, hay có những cảm giác như bị Máu Xâm. Nặng hơn, hành giả sẽ có hiện tượng *Tự Nhiên Bất Tỉnh* (mà không rõ nguyên nhân). Trong cuốn Tibetan yoga and secret doctrines của W.Y Evans-Wentz, ISBN 0-19-500278-4 có đề cập rất rõ về cách xả thiền.
Thực hành.
Nếu tư thế thiền là Nằm: Thì rất đơn giản, làm như vừa mới ngủ dậy.
Nếu là ngồi Kiết già: Tất cả những động tác sau đây nên làm chầm chậm và liên tục (y như chiếu phim quay chậm vậy)
A. Đầu:
1. Quay đầu sang trái: thở ra
2. Trở về lúc đầu: hít vào
3. Lập lại những động tác trên, nhưng lần này về bên phải.
4. Lập đi lập lại ba tối thiểu 3 lần.
B. Vai:
1. Xoay vai thừ thấp lên cao. Vai lên cao (hít vào), vai thấp (thở ra)
2. Lập lại ba 3 lần
C. Xả Ấn (nếu có dùng)
1. Đem ấn đụng với đầu rồi mới Xã (bằng một động tác vuốt tóc bằng cả 2 lòng bàn tay *như làm điệu vậy)
D. Tay:
1. Rảy 2 cánh tay: Như sự giãy giụa của con cá khi bị câu lên khỏi mặt nước.
E. Chân:
1. Từ từ bung 2 chân ra, 2 tay chịu xuống nền nhà.
2. Nâng 2 chân lên
3. Rảy như đã làm với cánh tay
F. Thân:
1. Ngồi lại như lúc đầu công phu, nhỏm người như muốn nhảy lên (chồm người ra phía trước như muốn đứng lên rồi trở về lại tư thế khởi đầu).
2. Vừa nhỏm vừa hô: Huh... huh... (ứng với mỗi lần nhỏm dậy)
3. Nhỏm người 3 - 6 lần
4. Hơi từ bụng thóp vào tạo thành tiếng Huh (nên phát âm nho nhỏ thôi).
Xả thiền đúng sẽ tẩy được độc tố trong ta, và giúp cho lần sau tu tốt hơn. Nhớ: đọc vài câu *Hồi Hướng Công Phu trước rồi mới xả thiền sau buổi tập.
Thân ái chào các Bạn
Hai Lúa.
TB: Xả theo cách của Ông Tám và Cậu Tư cũng được nhưng không hay bằng cách này.
Xả thiền Ông Tám, Cậu Tư
Thu, 24 Apr 1997 15:29:16
(Trích từ cuốn: Tôi Tầm Đạo, Tôi Hành Đạo, Tôi Tầm Tôi)
Khi thiền xong, đưa 2 lòng bàn tay lên chụp áp vào 2 bên mũi vuốt vòng ra sau đầu vài cái cho điển hồi trở vô.
(1) Chà mạnh 2 bàn tay vào nhau cho thật nóng, các đầu ngón tay chỉ lên trời.
Xong chụp úp 2 lòng bàn tay lên mũi, rồi vuốt ngược 2 lòng bàn tay từ mặt, lên trán, lên đầu, vòng ra 2 tai. Chà lòng bàn tay lên 2 tai và xoa nắn trái tai.
Lập lại (1) rồi dùng tay còn lại bóp và vuốt từ bả vai xuống cánh tay, tới cổ tay, rồi tới ngón tay. Dùng 2 tay bóp và vuốt từ háng xuống đùi, tới bàn chân xong và bẻ quặp ngón chân cái để bớt tê. Sau cùng chà mạnh 2 lòng bàn chân với nhau 50 lần.
Nhận xét:
Từ một tư thế tỉnh, hành giả đột ngột: đưa 2 bàn tay chụp áp vào 2 bên mũi... điều này chỉ áp dụng khi ở tình trạng Cận Định mà thôi còn ở tình trạng Tam Thiền hay Tứ Thiền, hành giả sẽ bị choáng váng khi làm hành động một bất chợt này. So với cách trước đây, hành giả tự động *Tỉnh Dần Đều và chuẩn bị tư tưởng xả thiền khi đọc vài câu hồi hướng... rồi mới chậm chạp vào những động tác hâm nóng của sự Xả thiền. Vả lại cách xả thiền này gồm toàn là những động tác nhanh và đột ngột như: Chà Mạnh hai (2) lòng bàn tay vào nhau...
Chính khuyết điểm nhỏ này đã cầm chân hành giả ở hiện tượng Cận Định mà thôi. Nhắc lại Định nghĩa về Cận Định: Là một tầng thiền thấp của Dục giới tiên mà trong đó hành giả sẽ thấy những linh ảnh với những đặc tính sau: Linh ảnh xuất hiện bất ngờ, không báo trước. Những hình ảnh cứ thế xuất hiện trước cái Thấy mà hành giả không cách gì mà điều khiển nó được. Như cảm giác tê từng luồng, cảm giác bị nghiêng, cảm giác lắc lư như ngồi/nằm vỏng... Những luồng sáng chớp bất chợt, những tiếng nổ như sấm... tất cả những cái đó chỉ có ở Cận Định mà thôi.
Tác Hại Khi Xả Thiền Không Kỹ
• Cứ muốn xuất hồn lên thượng giới
• Linh hồn không chồng khít vào nhau sau khi xuất định
• Bị nhức đầu kinh niên, uống thuốc hoài mà không bớt.
Phải tập lại cách xả thiền như của Thầy Milarepa thì mới có mòi khá hơn được :-).
Tại sao là vì khi chàng tập xong thì là chàng đứng dậy liền không thèm xả thiền cho đàng hoàng. Vả lại khi anh chàng lại vào thân thể thì cái linh hồn đó không chồng khít vào thân hình của chàng nên... lâu ngày thành thói quen và sau đó thì bị nhức đầu.
CẤU TRÚC VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA MỘT TƯ TƯỞNG

Trước khi vô vấn đề “thực hiện chánh định trên một đề mục”, chúng ta phải biết sơ qua về cấu trúc, sự vận hành, và sự tạo nghiệp của một tư tưởng. Vấn đề này có trình bày trong kinh VI DIỆU PHÁP hay TỐI THẮNG TẬP YẾU LUẬN của Thích Minh Châu (2 tập).

Chúng ta để ý đến sự việc xãy ra như sau:
Tiếng “cạch” do chúm chìa khóa rơi trên mặt bàn. Khi đem phân tích nó dựa trên VI DIỆU PHÁP, ta có kết quả sau:

Sau khi ta nhận thức được sự việc vừa xãy ra như trên, trong một tiếng “cạch”: Ta biết rằng, hay có một tư tưởng trong đầu ta kết luận rằng: Đó là tiếng động của chùm chìa khóa rơi trên mặt bàn, thì tư tưởng đó đã qua năm (5) giai đoạn sau:

1. Xuất phát từ luồng “BHAVANGA” (Cá tánh của ta).
2. Vào những giác quan (ở đây gồm: Mắt, Tai và Ý).
3. Làm các giác quan chú ý đến sự việc.
4. Vào Tốc hành tâm (JAVANA) một cách yếu ớt.
5. Ra Đăng ký tâm và Xác định tâm.

Tư tưởng đó đã di chuyển từ VI TẾ TÂM (1,2,3,4) đến THÔ TÂM (5) và mất đi một thời gian là: 17 sát-na tâm thức.

NGUYÊN TẮC TẠO NGHIỆP CỦA MỘT TƯ TƯỞNG

1. Một tư tưởng SẼ TẠO NGHIỆP khi nó đủ mạnh có nghĩa là từ: (2,3,4,5)
2. Một tư tưởng KHÔNG TẠO NGHIỆP khi nó không đủ mạnh có nghĩa là (1)

Để GIẢI THOÁT hay GIẢI THOÁT TRI KIẾN, chúng ta đem theo sự THANH TỊNH đến cho bằng được luồng BHAVANGA (cá tánh) và VƯỢT QUA nó để đạt được sự THANH TÂM hay AN CHỈ.

ĐỊNH NGHĨA LUỒNG BHAVANGA

Là phần đầu của VI TẾ TÂM nó lúc nào cũng RUNG ĐỘNG và khó làm cho nó chấm dứt đuợc. Nó được tạo nên, do, và theo ý của TƯ TƯỞNG CUỐI CÙNG của ta, khi ta chết ở kiếp trước. Và chính nó đã âm thầm hướng dẫn ta làm việc này việc nọ, ghét người này thương người kia và cũng chính nó đã dìm, đắm ta trong NGHIỆP QUẢ.

Như vậy cũng đã có QUÁ ĐỦ lý do để chúng ta thực hiện cuộc HÀNH HƯƠNG từ miền VÔ MINH đến miền GIẢI THOÁT qua con đường CHÁNH ĐỊNH. Con đường này không dành cho những THIÊN TÀI, mà chỉ dành riêng cho những ai tự thấy rằng mình phải CẦN CÙ BÙ KHẢ NĂNG. Hay cho những ai vì tò mò muốn tìm hiểu coi GIẢI THOÁT và GIẢI THOÁT TRI KIẾN là gì?
KIẾT ẤN HỘ THÂN
Khi kiết ấn thì các bắp thịt của bàn tay nên được "thư giản vừa phải".
Thực hành về khái niệm "thư giản vừa phải":

1. Ngữa bàn tay ra với các ngón tay khít lại với nhau.
2. Để bàn tay này lên trên mặt bàn.
3. Thư giản cái bắp thịt của bàn tay.
4. Chú ý đên độ thư giản của các ngón tay. Các ngón tay nghiên cở 45 độ là "vưà phải" còn cong lại như chữ "C" là thư giản nhiều quá.

Kiết ấn: Với mức độ thư giản của các ngón tay thì khí lực mới cộng hưởng với tâm lực mà phát ra được.

Kiết ấn có ba trường hợp:

a. Tu sĩ mới tu hành và có những hiện tượng như sau:
1. Đã tu tập và có sử dụng "Thần Quyền" vào những việc như đánh võ, chữa bệnh, viết bùa ... Rất là nhiều lần, một cách siêng năng.
2. Khi đang tu tập một mình mà cửa tự mở hay là đồ đạc trong phòng tự di chuyển.
3. Tiền kiếp đã tu về "Thần Quyền".
Thực hành:
Tu sĩ kiết ấn bằng tay và hộ thân theo công thức.

b. Tu sĩ có khuynh hướng xuất hồn, hay là khi tập thì nó đau ngay ngực:
Hiện tượng này xảy ra là vì đang tu đến khoảng Tam Thiền và lúc này các trung tâm năng lực nó bị nở ra quá! Nhất là trung tâm năng lực Anahata (ngay ngực).
Thực hành:
Tu sĩ bất ấn bằng cách quán hình ellipse (hột gà dựng đứng với hai đầu bằng nhau) màu vàng khè. Trong hình ellipse vày có một tu sĩ đầu trọc và bận áo cà sa màu vàng khè. Tu sĩ quán cho ông tu sĩ này hộ thân. Khi ấn chạm tới đâu thì tu sĩ sẽ thấy chỗ đó lóe hào quang, căn cứ vào mức độ lóe sáng này thì tu sĩ sẽ biết được mức độ vững chắc của cách hộ thân.

c. Kiết ấn với trình độ "Thường Trú Tam Bảo".
Cách này dành cho Tứ Thiền Hữu Sắc trở lên. Ở trình độ này, khi tu sĩ để ý đến trên đảnh của mình, thì tu sĩ có thể thấy có những người ngồi hay đứng trên hoa sen.

Những người này được sắp xếp theo thứ tự sau đây:
Gần mình nhất có thể là vị Thầy của mình và cũng có thể là cái vòng phép (Mandala) mà mình đang học.
cao hơn một tý thì những vị Thầy khác và cao hơn tý nữa thì tới những vị Phật. Có hai trường hợp rõ ràng:

1. Tu sĩ chưa vào các định ở Vô Sắc: Vị Phật cao nhất là Tỳ Lô Giá Na phát quang màu xanh dương.
2. Tu sĩ vào được các định ở Vô Sắc: Vị Phật cao nhất là :Hắc Bì Phật phát quang 7 màu cầu vòng.
Các vị này cư ngụ thường xuyên trên đảnh của tu sĩ: Nên gọi là "Thường Trú Tam Bảo".
Đây là một tình trạng cao cấp của Mật Tông. Tuy nhiên nó lại có những mức độ cao thấp của chính nó.

Mức độ 1: Tu sĩ thấy hào quang của những vị này phát sáng rất là linh động, nhưng pháp thân thì cứng đơ, y như là hình chụp. Muốn tiến tu thì tu sĩ dùng nguyên tắc: "Muốn có thì phải cho" có nghiã là tiếp tục cho và tiếp tục làm việc thí pháp ...

Mức độ 2: Hào quang linh động và Pháp Thân cũng sinh động luôn. Đây quả thật là trình độ cao cấp nhất của Mật Tông.
Lúc này tu sĩ làm bất cứ việc gì thì những hành động này đều là "ấn".
Và dĩ nhiên là tu sĩ nói bất cứ điều chi thì lời nói này đều là "thần chú"
Hết.
THỰC HIỆN CHÁNH ĐỊNH TRÊN MỘT ĐỀ MỤC: LỬA

Trước hết, chúng ta phải hiểu tại sao lại phải thực hiện CHÁNH ĐỊNH
Trong những tài liệu về PHẬT GIÁO, về phần vũ trụ quan, có nói tới nhiều thế giới khác, trong một vùng không gian rộng lớn được gọi là: TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI. Vùng không gian này được chia ra làm BA vùng nhỏ hơn dựa vào những đặc tính chung của từng vùng. Ba vùng đó có tên như sau:
• DỤC GIỚI (Gồm từ chư TIÊN dục giới: Tha Hóa Tự Tại đến A-Tỳ địa ngục). Ở đây lúc nào cũng có sự hiện diện của 02 giống: ĐỰC và CÁI. Hành động của chúng là ĂN, UỐNG và GIAO DÂM. Tuổi thọ của những loài từ CON NGƯỜI trở xuống đều không BẰNG NHAU; những loài trên CON NGƯỜI đều có CÙNG MỘT TUỔI THỌ nếu cùng ở trên cùng một cung trời.
Khi nằm mơ thấy CON TRAI, CON GÁI vì: Tâm còn THAM DỤC.
• SẮC GIỚI (gồm từ chư THIÊN sắc giới: Sơ thiền đến Tứ-thiền). Ở đây KHÔNG CÒN 02 giống: ĐỰC và CÁI. Không có vấn đề giao dâm, và ăn uống. Thức ăn của họ chính là: LINH ẢNH của họ tạo ra trong cơn THIỀN ĐỊNH. Tuổi thọ của họ rất giống nhau trên cùng một cung trời.
• VÔ SẮC GIỚI (gồm những chư THIÊN từ Không Vô Biên Xứ, tới Phi-Phi Tưởng Xứ). Ở đây không còn hình tướng của bất cứ cái gì nữa. Chỉ gồm toàn là tư tưởng. Tuổi thọ của họ rất giống nhau trên cùng môt cung trời.
Chúng ta lại biết rằng:

Ở DỤC GIỚI, trạng thái TƯ DUY đứng đầu. Có nghĩa là, ở đây, hiện tượng này KẾ TIẾP hay ĐẰNG SAU hiện tượng kia: Khi ta thấy hiện tượng này, thì lại KHÔNG THẤY hiện tượng đứng liền sau đó.
Ở SẮC GIỚI, trạng thái ĐỊNH lại đứng đầu. Có nghĩa là, ở đây, hiện tượng này ở KẾ BÊN hiện tượng kia. Tương tự như vậy:

Ở VÔ SẮC GIỚI, khi ta thấy hiện tượng này, thì ta lại THẤY RẤT RÕ hiện tượng đứng liền sau đó.

Vậy lợi điểm của vấn đề NHẬP CHÁNH ĐỊNH là: Ta có thể biết ngay lập tức BẤT CỨ vấn đề gì vì: hai hiện tượng lại ở KẾ BÊN nhau (như cái bàn ở KẾ BÊN cái ghế vậy).
Đó chỉ là lợi điểm nếu áp dụng nó vào những việc ở ĐỜI.

Ví dụ:
• Thực hiện CHÁNH ĐỊNH nơi luân xa YẾT HẦU: Tu sĩ sẽ không đói và khác
• Thực hiện CHÁNH ĐỊNH nơi điệu bộ và hình tướng: Tu sĩ sẽ biết được TÂM LÝ của họ.
• Thực hiện CHÁNH ĐỊNH nơi điệu bộ và ký hiệu: Tu sĩ sẽ biết được NGÔN NGỮ của họ.
Ở đây, chúng ta chỉ bàn tới việc sử dụng nó vô việc GIẢI THOÁT mà thôi.
CHỨNG VÀ ĐẮC THIỀN HỮU SẮC

Tưởng tượng một ngọn LỬA xuất hiện đằng trước mặt:

1. Khi ngọn lửa CHƯA xuất hiện, tâm đọc câu: LỬA…LỬA…chậm chậm thôi.
2. Khi ngọn lửa ĐÃ xuất hiện, tâm đọc câu: LỬA 1…LỬA 2…cách nhau 1 giây.
3. Khi ngọn lửa xuất hiện lần đầu tiên, tu sĩ bị MẤT cảm giác thân thể.
4. Cố gắng THƯ GIÃN, đừng nôn, đừng thi đua với nhau.
5. Nếu thấy trở ngại: SÁM HỐI, cố gắng GIỮ GIỚI càng kỹ, càng tốt.
6. Khi chánh định tới TAM THIỀN thì mới thấy ĐÚNG một cái gì đó.
7. Nếu không, tu sĩ sẽ BỊ MA NHẬP, hay MA CHO THẤY, và sẽ bị CHI PHỐI !
8. Nếu có SỢ thì đừng có SỢ: CÁI SỢ của mình.
9. Dùng câu: NHÂN LÀNH THÌ QUẢ PHẢI LÀNH để trấn áp cơn SỢ HẢI.

CHỨNG: Mới nhập chánh định một vài lần đầu tiên: Chưa được TƯ TẠI.
ĐẮC: Muốn xuất và nhập định bao lâu, lúc nào, ở đâu cũng được: Gọi là TỰ TẠI.

SƠ THIỀN: Giữ đề mục 12 giây
Ở đây tu sĩ mất SÂN HẬN, LO, SỢ, hết nghi ngờ về phương pháp, ít ngủ.

Tâm tư lăng xăng vô cùng, nay chỉ còn 5 vấn đề:
1. TẦM (tìm kiếm đề mục)
2. TỨ (giữ đề mục càng lâu càng tốt) khỏang từ 1 đến 12 lần đếm.
3. HỶ ( vui ở ý, miệng mĩm cười do ly dục sanh ra).
4. LẠC (nhẹ nhàng ở thân).
5. NHẤT TÂM (xác định dựa vô thời gian, độ rõ, độ trong suốt của đề mục).

Nếu tinh tấn: Không gian sẽ có màu ĐEN và XA thăm thẳm.

NHỊ THIỀN: Từ 12 đến 40 giây
Những kết quả do bỏ THAM, SÂN, SI ở trên càng mạnh mẽ.
Tâm còn 4 vấn đề:
1. TỨ từ 12 đến 40 lần đếm.
2. HỶ
3. LẠC
4. NHẤT TÂM (đề mục đã phát ra ánh sáng xung quanh).

Tâm lý: SỢ MẤT ĐỀ MỤC xuất hiện
Nếu tinh tấn, đề mục nhỏ lại và đứng im.

TAM THIỀN: Từ 40 đến 70 giây
Những kết quả trên lại càng mạnh và lâu hơn.

Tâm có 3 vấn đề:
1. HỶ.
2. LẠC
3. NHẤT TÂM (đề mục xuất hiện dễ dàng, có hào quang bắn về CÁI THẤY).

Bị tức ngực (do không HỘ THÂN KỸ) vì XUẤT HỒN, dừng lại: TẬP HỘ THÂN ĐÃ!
Nếu tinh tấn: giữ đề mục CHO LÂU và thực hiện CÔNG ĐOẠN đổi đề mục. Được nói rất kỹ ở phần TỨ THIỀN. Đề mục xuất hiện từ 40 đến 70 lần đếm.
Lúc này sự THANH TỊNH đã lấn xuống luồng BHAVANGA rồi, nên tu sĩ cảm nhận có một sự RUNG ĐỘNG tuy rất NHẸ, nhưng nó cũng làm cho tu sĩ rất KHÓ CHỊU và có cảm giác như BỊ TUỘT ĐỊNH. Ngay lúc này mới đổi đề mục.

TỨ THIỀN: Từ 70 giây trở lên
Những kết quả HẾT THAM, SÂN, SI gần như lúc nào cũng có bên ta.

Tâm có 2 vấn đề:
1. LẠC.
2. NHẤT TÂM.

Ở đây, cố gắng chịu đựng độ chói sáng của đề mục và giữ nó càng lâu càng tốt, kế đó ĐỔI ĐỀ MỤC: Quán một khối cầu màu XANH LƠ hay XANH LÁ CÂY NON (màu xanh lá cây non sẽ làm cho tâm tu sĩ ít GIAO ĐỘNG hơn) có đường kính (03cm). Sau khi đề mục xuất hiện dể dàng: Làm cho NHỎ LẠI bắng cách tập trung vô TÂM của nó, đừng để ý gì đến xung quanh đề mục hết: Nó sẽ nhỏ lại.

Sau khi, thực hiện thành công hai (2) giai đọan trên, tu sĩ thực hiện lại công đoạn trên nhưng với đề mục lần lược có những màu khác: ĐỎ, VÀNG, TRẮNG.

GHI CHÚ: Đừng đợi cho đề mục nó TỰ MẤT mà phải làm cho nó NHỎ lại khi nó vừa hiện rõ lâu một chút (có nghĩa là lúc thân hòn bi hơi trong).

Bất ngờ thấy RƠI một cái và một không gian QUAN ĐẢNG, trong suốt và sáng xuất hiện càng ngày càng rõ, lúc đó tu sĩ đã CHỨNG: QUAN-quả-thiên (từng trời đầu tiên của TỨ THIỀN).

Lúc bây giờ công việc tu tập trở nên đơn giản hơn. Công việc kế tiếp là phải: NGĂN không cho tình trạng AN CHỈ, vừa mới có, chìm xuống luồng BHAVANGA:
Quán một MÀN TIVI màu trắng như hột gà bóc, tâm đọc câu: Chuẩn bị, thuận thứ, Cận hành, Chuyển tánh, AN CHỈ… AN CHỈ… cho tới khi thấy HƠI NGỘP NGỘP thì giảm cường độ tập trung. TẬP ĐI TẬP LẠI cho thật nhuyển rồi mới buớc sang con đường MINH SÁT TUỆ. Ở đây tu sĩ thường mắc phải sai lầm là hấp tấp trong khi tu tập, lần này đừng để phạm sai lầm đó nữa, tu sĩ phải từ tốn, đừng vội vã:

PHẢI TẬP ĐI TẬP LẠI CHO NÓ NHUYỂN rồi mới bước vô MINH SÁT TUỆ.
Đọc thêm: Sơ Thiền và Tiếng Ồn
QUÁN MÀN TV - TÂM KÍNH ĐÀN
Trình độ lý tưởng là... Tứ Thiền Hữu Sắc (TTHS).
Hành giả dùng đề mục nhập vào TTHS. Khi nhập chánh định vào tới đó: hành giả thay đổi đề mục, quán một cái khung như một màn ảnh TV. Màn ảnh này có kích thước 9 cm × 12 cm. Về màu sắc thì tùy vào trình độ nhập định nông hay sâu mà màu sắc sẽ xuất hiện theo trình tự biểu kiến như sau: Màu đen xám, màu xám, lấm tấm những hạt cát màu vàng, rồi màu vàng và sau cùng là màu trắng như trứng hột gà bóc. Màu trắng này đặc biệt là hành giả có thể thấy cả chiều sâu của nó.
Tâm lực thể hiện qua mức độ quán tưởng của hành giả. Tâm càng có lực thì linh ảnh trong màn TV càng rõ, càng nhiều chi tiết và rất sống động

Xem Thêm Tâm Kính Đàn
TU TẬP THẦN THÔNG
Khi vào được Tứ thiền, tu sĩ lo tu về thần thông để tập làm chủ tư tưởng. Ở đây, tu sĩ đã gần kề mục tiêu của Phật giáo rồi, nhưng chưa có một tý gì về Phật pháp hết. Mặc dù với sự cố gắng hết sức, tu sĩ có thể có đủ ngũ thông:
- Thiên nhãn thông: Quán một màn tivi, giữ cho nó trong suốt và ổn định. Tác ý muốn coi một cảnh vật nào đó (nên chọn một cảnh vật gần nơi mình ở để có thể kiểm soát khi mình làm xong thí nghiệm).
- Thiên nhĩ thông: Quán một màn tivi giữ cho nó trong suốt và ổn định. Tác ý muốn coi một ông bạn hiện giờ ở đâu, và đang nói những gì? Liền thấy ổng đang làm cái gì đó trong màn tivi, và nghe tiếng nói của ổng “xuyên qua” đầu mình. Nhớ kiểm tra lại để tránh rơi vào ảo giác!
- Tha tâm thông: Quán một màn tivi giữ cho nó trong suốt và ổn định. Tác ý muốn coi một ông bạn hiện giờ đang nghĩ gì? Liền nghe tiếng nói của tư tưởng ổng xuyên qua đầu mình. Nhớ kiểm tra lại để tránh rơi vào ảo giác!
- Túc mạng thông: Quán một màn tivi giữ cho nó trong suốt và ổn định. Tác ý muốn coi một quá khứ gần mình đang làm những gì: Liền thấy mình đang làm cái gì đó trong màn ti vi. Cùng một thể thức ấy, tác ý muốn coi mình đang làm gì vào lúc ba tuổi chẳng hạn... Một tuổi... Không tuổi... Lúc này nên đặt câu hỏi “Rồi sao nữa” để thấy được tiếp... Nhớ giữ giới luật thật nghiêm khắc khi thử nghiệm
- Thần túc thông: Trước khi thí nghiệm, lấy một cái đĩa và rắc khá dày bột phấn rôm (talc) hay tro lên đĩa đó, để dĩa trên bàn ngoài phòng khách. Vào nơi mình tu tập, nhập Tứ thiền, quán một màn tivi giữ cho nó trong suốt và ổn định. Tác ý muốn thấy nơi mình để cái dĩa và tác ý muốn vào nơi đó để ịn bàn tay mình lên đĩa đó. Liền thấy mình đứng trước đĩa và ịn bàn tay mình lên đó. Xuất định, đi ra kiểm soát coi có dấu tay mình trên đó không? Nhớ nhờ một người khác xác nhận có đúng vậy không? Để tránh rơi vào ảo giác! Sau đó tác ý đi lấy một cái gì đó của một anh bạn nào đó... Lấy xong nhớ trả lại họ chớ không thì tội nghiệp họ. Tuy vậy, họ vẫn bị Phật giáo gọi là tà đạo!!! Và như vậy, cho tới khi tu sĩ vào được Phi phi tưởng xứ. Lúc này tu sĩ có thể coi được bốn mươi kiếp (40), vì còn tà đạo, tu sĩ không cách gì coi được kiếp thứ bốn mươi mốt (41)!!!
Thật là ghê gớm, khi được biết mình vẫn còn bị kềm hãm trong tà giáo! Lúc đó tu sĩ mới hiểu được sự cao siêu của đức Phật. Chỉ khi nào Tu sĩ vào được Diệt thọ tưởng định thì lúc đó tu sĩ mới được công nhận là không còn tà đạo nữa!!! Tất nhiên còn phải vào cho đủ bảy lần để chỉ thành Độc giác Phật. Còn bậc “Như lai, ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, thế tôn” thì Thằng ngọng tôi, xin nghiêng mình đảnh lễ! Trên đây là con đường dành cho những người thật là bình thường đi vào chánh đạo (có nghĩa là phải đắc các từng thiền trước rồi mới vào được Chân lý). Còn một con đường khác hay hơn và rất là hiếm khi thành công, đó là con đường đi tắt vào Chân lý. Có nghĩa là, khi ngồi nghe nói chuyện đạo, tự nhiên do câu chuyện gây xúc động mãnh liệt, tâm của người đó đột biến và ngừng giao động, nếu cứ để yên như vậy thì có thể đắc ngay quả vị A La Hán mà không cần phải đắc các từng thiền. Chúng ta nên thận trọng khi gặp những cái gọi là Tà sư, có những tà sư thật sự là dở (phần 1.). Đối với các pháp môn đó, là Phật tử, chúng ta không tu theo họ. Nhưng cũng có những “tà sư” nhưng vẫn còn dùng được vì chữ tà đây lại có nghĩa là chưa tu xong. Vậy chúng ta đừng vội cho ông này tà, bà kia chính. Vì thật sự vấn đề chính, tà hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của chúng ta. Vì oái oăm thay, chúng ta hoàn toàn vô minh có nghĩa là còn tệ hơn là tà đạo nữa! Thật vậy tà đạo chỉ dùng cho những tu sĩ hoặc tu sai lầm, hoặc chưa tu xong. Còn chúng ta không hiểu gì hết về vấn đề tu hành (vì còn là vô minh) mà bày đặt đi lo phê bình này nọ theo quan niệm rất là phàm phu của chúng ta.
SỬ DỤNG THẦN THÔNG
Hỏi: Có thần thông để làm gì?
Đó chẳng qua là hoa mọc bên đường khi đi theo bước chân Phật. Nếu dùng nó cho đúng cách (?) tụi mình biết đại khái những khuyết tật (Tâm bịnh) của bạn mình mà điều chỉnh tác xạ cho hiệu quả vậy thôi. Tất nhiên, khi có Thần Thông, anh có quyền biểu diễn cho bà con cô bác coi chơi. Và sau khi biểu ziễn anh sẽ tự biết... đã phạm giới luật (Y như bịt mắt mà chạy xe lên freeway dzậy). Tuy vậy, để đạt được nó: Không phải là một chuyện dễ, hí hí vì: Thần Thông là một pháp tu rất cao cường. Thần thông là biết rõ: Ta và Người; Trong và Ngoài. Thần thông là một phương tiện độ để giúp bạn bè “Đến Gần” với giải thoát. Nó là thế giới của phương tiện độ.
Hào quang và cách nhìn
Hào quang thường cho biết về tình trạng sức khỏe, tinh thần và tư tưởng.
- Bệnh tuyệt vọng: hào quang (HQ) phai lợt
- Người chết bất đắc kỳ tử, khi sức khỏe còn tốt: HQ vẫn còn lưu lại một lúc sau.
- Người chết từ từ: HQ mất đi ở óc trước, sau đó lần lược ở các bộ phận sau và sau cùng là tóc và móng tay.
- Người bình thường thì có vầng ánh sáng xanh vàng
- Khi nói xạo: Màu xanh vàng (lá úa) bay vọt lên xuyên đỉnh HQ
- Người nặng nề về Tâm Linh: Màu HQ rất đậm, dơ và cũ
- Người đa nghi: Nâu đục quanh viền
Màu áo thường mặc lúc sinh hoạt bình thường hàng ngày thường được chọn một cách vô thức theo kết cấu của HQ.
- Tâm linh tiến hóa: Màu sắc thay đổi từ đậm sang lợt nhưng vẫn rõ (màu sắc rất thanh)
- Tâm linh thụt lùi: Màu vàng y lợt đi hoàn toàn (biến từ màu vàng đục rồi qua vàng kem)
Màu Đỏ: Khi nói đến màu Đỏ hay bất cứ màu nào người thấy được HQ sẽ thấy tỷ lệ màu đỏ chiếm rất cao trong cấu trúc HQ. Màu Đỏ tượng trưng cho sự hay khả năng thúc dục, tài chỉ huy.
- Màu đỏ trong sáng: Tướng lãnh đạo giỏi
- Đỏ trong sáng có viền vàng: Tính chinh phục và luôn luôn giúp người
- Đỏ trong sáng hay những chớp sáng phát ra từ nơi nào đó: Bộ phận đó rất mạnh
- Đỏ úa bầm quá tối ở viền HQ: Tính tình xấu hay tranh cãi, phẩm chất bốc lột người bằng sức lao động
- Đỏ mờ nhạt: Tính tình nóng nảy, dễ khích động
- Đỏ thoái hóa (càng ngày càng lợt và yếu đi): Bứt rứt khó yên, dễ thay đổi ý.
- Đỏ mờ nhạt + nâu thoi thóp: Phát ra từ chỗ nào là chỗ đó bị Ung Thư.
- Đỏ lấm chấm hay lóe sáng ở hàm: Đau răng.
- Đỏ chói phát ra ở đỉnh đầu sau một lời phát biểu: Tự tin hay sự giả kiêu hãnh.
- Đỏ chói ở hông một người Nữ phập phòng và thoi thóp: Gái điếm vì tiền chớ không phải vì ưa thích.
- Đỏ chói + Nâu từng tia viền HQ không đều đặng phát rất rõ ở hông: Gái điếm vì ưa thích.
- Đỏ nâu màu gan tươi: Người bẩn thỉu mang đến rắc rối.
Nếu xuất hiện trên toàn cơ thể: Sắp chết.
Màu Hồng: Chưa trưởng thành, tánh tình trẻ con, vô tội
Nếu bất chợt xuất hiện ở một người bình thường, sau một lời kết án: Họ vô tội. Chiếm tỷ lệ rất cao trong cấu trúc HQ.
Cam sáng đậm: Hay quan tâm đến người khác, lòng nhân đạo và nhân hậu.
- Cam nâu: Lười biếng, ẩu.
- Nếu xuất hiện ở vùng thận kèm theo nhiều màu hỗn loạn: Bị sạn thận
- Cam và Xanh lá cây đậm (Xanh lá cây ở giữa màu Cam): Hay cãi nhau, không nghe lời.
Vàng: Màu này chiếm tỷ lệ rất cao trong cấu trúc HQ.
- Vàng y: Đạo đức, Tâm linh tự nhiên (Vàng sáng ở đỉnh đầu và chung quanh).
- Vàng rực và chàm: Tâm linh tiến bộ.
- Vàng nghệ: Hèn nhát (người không có “cú sút” theo danh từ đá banh).
- Vàng đỏ: Yếu đuối vì tình cảm và vật chất, không có lập trường.
- Vàng đỏ hay nâu đỏ: Đang tìm kiếm cái gì đó.
- Lóe sáng vàng đỏ: Người hiếu chiến, mặc cảm tự ty.
- Đỏ đậm trong vàng đậm: Mặc cảm.
- Vàng nâu: Tư tưởng xấu, trí tuệ yếu, ngu độn.
- Nâu tối (dơ) và vàng tối ở hông: Khuynh hướng xấu (dê xồm).
- Lóe sáng: Vàng, đỏ, nâu trên đỉnh đầu: Khùng, bịnh tâm thần.
- Vàng (dơ) và xanh dương (nữa bên là vàng dơ, nữa bên là Xanh dương dơ): Cốt đồng.
- Vàng y tinh khiết: Tâm linh tuyệt vời, giới luật nghiêm chỉnh.
Xanh lá cây: Người thấy được hào quang sẽ thấy rằng màu này chiếm tỷ lệ rất cao trong cấu trúc HQ.
- Xanh lá cây (xanh như dạ quang): Thầy thuốc giỏi. Bác sĩ giải phẫu giỏi.
- Xanh lá cây (như áo lính) và đỏ: Vật lý giỏi.
- Xanh lá cây và Xanh dương: thành công nhờ dạy học, thầy giáo yêu nghề.
- Phần viền nhiều màu xanh lá cây: Người bị dị ứng đối với súc vật.
- Xanh Vàng úa: Xạo, lừa đão, không nên giao thiệp, người không có thật.
- Xanh trái chanh + Vàng + Xanh Dương (tất cả đều trong sáng, đẹp): Đáng tin cậy.
Xanh lơ (dương): Màu xanh này chiếm tỷ lệ cao trong cấu trúc HQ.
- Xanh lơ: Thông minh, thích đọc sách, thế trí biện thông.
- Xanh rực rỡ phát ra đều đặng khắp người: Sức Khoẻ tốt.
- Xanh lợt màu đục như sương mù: Người không tự quyết định được (đợi thúc hối mới làm).
- Xanh đậm: Sợ tiến bộ (dị ứng với sự văn minh) ù lỳ, tự mãn.
- Chàm trong + tím: Tín ngưởng mạnh mẽ, người này có trực giác về chính pháp, không tin bậy bạ.
- Hồng trong Chàm: Quá nhạy cảm, nếu kèm theo những hiện tượng khó chịu: Sự nhạy cảm bị thoái hóa.
- Xám: Rối loạn thần kinh, sức khỏe kém, tính tình yếu đuối (hết pin).
Ngoài ra Hào quang còn tạo thành những hình dáng trên đỉnh đầu.
- Hình một vương miện màu xanh dương: Ưa thích tiền bạc (tay làm ăn, ít tình cảm).
- Một đám khói màu đen nhảy nhót trên đỉnh đầu: Tính tình bất nhất.
Khi nói về vấn đề gì mà họ không biết (thực chứng): Một hình xoắn ốc có màu tùy theo đề tài sẽ phóng xuất nơi miệng họ:
- Màu vàng đậm: Tâm linh.
- Màu nâu và đen: Lấy người bạn của mình ra làm thí nghiệm nhưng điều mình chưa biết.
- Màu đen như khói: Lời nói bậy bạ (khẩu nghiệp).
- Màu Xanh dương đục: Phóng đại một câu chuyện, khi chỉ có nghe lại (Không được chứng kiến).
Một ngọn lửa màu cam: Có khuynh hướng Tâm linh cao, nhưng chưa định hướng được, ưa chuyện nhân nghĩa, thích giúp đời.
Khi hai người đang trò chuyện trong một quán cà phê, Người thấy hào quang sẽ biết được hai người đó là người bạn thân, hay bạn qua đường:
1. Bạn thân: Một cầu vòng màu xanh dương như khói thuốc và giao tiếp với cầu vòng bên kia, nơi giao tiếp sẽ hiện ra hình của đề tài nói chuyện.
- Một cái nhà: họ đang nói về nhà cửa
- Một con người trần truồng: Họ đang phân tích tâm lý một người nào đó.
2. Bạn qua đường: Hai phần HQ sẽ nối với nhau trên đường thẳng (không phải là cầu vòng) tình bạn không bền, họ đang lợi dụng nhau.
[...]
Ngôn ngữ Tâm linh là ngôn ngữ của màu sắc và hình tượng cực kỳ phong phú, người đọc được ngôn ngữ đó không bao giờ hết chuyện để nói, và không bao giờ họ ngưng học hỏi, những hiện tượng trên chỉ là một phần nhỏ của cái thấy của Hai Lúa tui. Cái thấy này có tác dụng hai chiều: Ở lúc tâm chính, Hai Lúa tui thấy và trực nhận ngay lập tức, rất chính xác ý nghĩa của nó. Nhưng nếu, Hai Lúa tui chỉ thấy mờ mờ và phải luận đoán vòng vo tam quốc: Hai Lúa tui biết ngay là mình còn tà niệm.
Vậy khi thấy được HQ mình không cách gì làm bậy được Vì thấy nó rất là khó, nhưng mất nó lại rất là dễ vì chây lười, không thèm tập hay phạm giới luật. Nó (Thần Thông) là một người Bạn chân tình. và cũng một người Thầy rất nghiêm.
Cách nhìn:
Nhìn vào bàn tay người khác phái (người yêu) là tốt nhất.
Nếu không có thì... dùng bàn tay của mình vậy.
Các ngón tay xòe ra hết cỡ, cách khoảng một vài cm một cái nền có màu hơi tối. Dùng đèn ngủ có màu hồng lợt (anh Sơn) hay bình dân hơn: Một cái đèn hột vịt được vặn lên đừng cho có khói là được rồi. Hai Lúa tui, thường để cái đèn dầu đó đằng sau lưng và dùng cái bóng mình làm nền là tự nhiên hơn hết. Nhìn vào cái viền các ngón tay (ngón giữa và ngón trỏ). Nếu nhìn đúng cách sẽ thấy như có một màn sương, sau đó sẽ thấy một màu xanh dương lợt hay màu tím lợt. Vẫn tiếp tục nhìn như vậy một thời gian: Bất chợt sẽ thấy lóe lên màu sắc HQ của bàn tay. Tập cho thuần thục bài tập trên, sau đó mới tập ngoài ánh sáng tự nhiên...
Nếu muốn thấy nguyên cấu trúc của HQ trên một con người:
- Nhìn vào một điểm tưởng tượng gần phía trước mình (khi đó sẽ thấy có 2 đối tượng vì do mình lé)
- Sau đó di chuyển điểm tưởng tượng đó về phía đối tượng cho tới khi hai đối tượng chập lại một.
- Tập trung cái nhìn vào điểm đó. Đối tượng mờ mờ đằng trước mặt sẽ lóe sáng lên với tất cả màu sắc và cấu trúc của HQ.
Khi làm thì thở vững chắc, sâu và chậm. Tất nhiên là không cố gắng quá sức mà bị mệt oan uổng. Tập trường kỳ cho tới khi thấy màu sắc mới thôi. Nếu tập trung cao hơn: Mình sẽ thấy được nguyên hệ thống kinh lạc của châm cứu: Châm vào điểm sáng nhất hay tối nhất: Bịnh sẽ giảm.
Làm cách này mình sẽ rất mệt vì đã dùng thần thông can thiệp vào nghiệp quả của người khác.
Định luật vũ trụ sẽ rất khắc khe đối với những ai sử dụng thần thông một cách bừa bãi.
- Thần thông không liên quan gì đến nhân quả.
- Thần thông là quả báo của Thiền Định.
- Thần thông là một pháp tu rất cao cường.
- Thần thông là biết rõ Ta và Người, Trong và Ngoài.
- Thần Thông chỉ là phương tiện để đưa bạn bè gần đến đường Giải Thoát.
- Thần thông rất khó đạt, nhưng lại rất dễ mất vì: Chây lười hay phạm giới luật Thần Thông là con dao hai lưỡi:
“Nếu lạm dụng thì nó sẽ thiêu đốt hành giả, còn nếu dùng nó làm phương tiện để chỉ đường đi cho bạn bè thì nó lại càng làm cho tâm linh hành giả cao thêm.”

1. Nó sẽ là chất xúc tác để nâng cao trình độ tâm linh của bạn
2. Nếu dùng bậy bạ (với đầy bản ngã, Ta Đây): Nó sẽ quất sụm bạn.
Nguyên tắc tối hậu của Thần thông là: Muốn có thì phải cho. Vậy Thần thông không có gì phải sợ mà tránh né nó. Theo kinh nghiệm của Hai Lúa tui: Có thì cứ dùng, muốn dùng thì phải “Giữ” vậy.
SƠ THIỀN và TIẾNG ỒN

HL: Chào các Bạn.
Khi đề mục xuất hiện đằng trước mặt khoảng 12 giây là hành giả vào được ngưỡng cửa của Sơ Thiền. Hành giả sẽ bị những tiếng ồn sau đây chi phối: Tiếng ồn có tánh cách bất chợt như một vật gì đó rớt xuống nền nhà, một tiếng kêu của ai đó, một bước chân của ai đó đang đi tới chỗ mình tập. Để khắc phục chỉ còn nước là: đi chỗ khác mà tập. Hay là dặn người nhà là đừng làm ồn, hay là (trường hợp của Anh Sơn) là nghiến răng, và ép nguyên cả cái lưỡi lên nóc vọng và tập trung tư tưởng liên tục vào đề mục (vì vợ anh ấy hễ thấy ảnh tập là chị lại chơi piano. Và nhất là tiếng í í trong lỗ tai phải (nhiều hơn): Tiếng ồn này không có gì là khó chịu lắm đâu. Vì đó là tiếng ồn của phần não bộ bên phải nó phát ra... khi vô thức của hành giả do tu tập mà mạnh dần lên. Nguyên tắc là vẫn tập trung vào đề mục chớ đừng có mất thì giờ mà ngồi nghe cái tiếng í í này: nó chẳng dẫn mình đi đâu xa cả ngoài hiện tượng Cận Định mà thôi.
TB: Ngoài ra có hành giả còn nghe luôn được cả tiếng ù ù của bộ An Ninh Quốc Phòng các cường quốc. Tiếng ù ù này dùng để phát hiện vị trí những tàu ngầm của nhau. Chỉ còn một cách là... uống rượu cho say để mà ngủ. Hay là nghiến răng lại và ép cả cái lưỡi lên nóc vọng và tập trung tư tưởng vào đề mục để thoát khỏi sự nhạy cảm của hệ thần kinh này.
Nhị thiền với Tầm và Tứ
Khi đề mục phát ra ánh sáng là hành giả đã vào được Nhị Thiền hay nếu nói về thời gian xuất hiện thì sẽ là từ 20 đến 40 giây đồng hồ. Khi này thì tâm lý lại có khuynh hướng: Sợ đề mục lại biến mất đi trong tầm nhìn. Do vậy mà tầm (cố vẽ đề mục bằng trí tưởng tượng) và tứ (là cố giữ đề mục xuất hiện càng lâu càng tốt) lại là một trở ngại trong khi hành thiền ở trình độ Nhị Thiền.
Giải quyết: Khi đề mục biến mất trong tầm nhìn thì hành giả cũng nên niệm trong tâm rằng: Đó chẳng qua là sự sinh diệt của các pháp. Khi mình chứng được sự sinh diệt của các Pháp này rồi thì mình trở nên bình tĩnh hơn trong công phu. Có nghĩa là mình không còn lên án rằng là “mình tu quá tệ” nữa, khi đề mục lại biến mất trong tầm nhìn. Mà mình hiểu rằng: sự biến mất này là cái tự nhiên của tất cả các pháp. Do bình tĩnh hơn và nhất là không lập tâm rằng mình sẽ ráng làm cho ngon lành hơn... hồi hôm qua khi khởi đầu buổi công phu. Nên tâm mình trở nên an phận hơn. Do sự an phận này mà mình lại an vui hơn. Và vì mình cố ý tác ý về sự an vui này khi đề mục phát ra ánh sáng thì sự Hỷ và Lạc càng thấm nhuần thân thể và càng mạnh mẽ hơn khi còn ở Sơ Thiền. Do an vui mà mình vô Tam Thiền hồi nào mà mình cũng không hay.
Tam thiền và Hỷ
Khi đề mục lại phát ra tia sáng mạnh như tia hồ quang (cái tia sáng màu trắng xanh khi thợ hàn điện đang hàn đó mà!) thì mình lại vào được Tam Thiền, hay nói theo thời gian xuất hiện của nó thì khoảng 40 đến 70 giây. Tuy vậy cái trở ngại của nó lại là cái hỷ (cái vui ở trong bụng). Tại sao? Là vì khi mình tới Nhị Thiền thì cái vui này nó càng ngày lại càng mạnh. Đến độ, nếu bất chợt nhìn vào gương thì mình lại thấy cái mép của mình cứ cong cong y như là nụ cười của La Joconde (bức tranh trứ danh của Leonard De Vinci) vậy.
Và tất nhiên là khi vào Tam Thiền thì cái hỷ này biến mất và hiện tượng trụ tâm vào cái xả cùng với sự cố gắng giữ cái chánh niệm và sự tỉnh giác mà thôi. Do không biết cái chuyện này nên hành giả lại đi tìm ngược lại cái hỷ. Nên lại tự lâm vào cái tình trạng cà xịch, cà đụi: có nghĩa là vừa lên được Tam Thiền (mất cái hỷ) thì lại tìm xuống Nhị Thiền (để tìm lại cái hỷ) v.v.. và cứ lòng vòng như vậy hoài.
Ngoài ra, tình trạng Tam Thiền là một tình trạng có rất nhiều cảm nhận đặc biệt: Đến đây. sự thanh tịnh đã có lực: Thô Tâm hầu như đã im lặng, nhưng vi tế tâm vẫn còn giao động (dĩ nhiên). Nhưng cũng vì lúc này cái tâm đã có lực rồi, nên nó cảm nhận được sự giao động của vi tế tâm hay là luồng Bhavanga (vốn là cái cá tánh đặc biệt của mình: cá tánh này được tích lũy do những chập tư tưởng cuối cùng của từng kiếp khi mình chết đi và sống lại trong hàng tỷ kiếp luân hồi). Cũng do cảm nhận được sự giao động này mà hành giả lại có cảm giác là mình đang tuột định.
Đặc biệt, một vài hình ảnh tiền kiếp của chính mình bỗng nhiên xuất hiện trong vòng một sát na. Cuối cùng, đây cũng là cái trần nhà khi nhập chánh định trên một đề mục (kasina) mà thôi. Không cách gì mà lên được Tứ Thiền với phương tiện này được.
Tứ thiền và hơi thở
Chắc rằng các Bạn cho rằng: Đây là bước đầu của sự tự thắng, nên chỉ còn một nước là: Một mất, một còn chớ gì? Đó là trên lý thuyết mà thôi. Xin quý bạn bình tâm và đừng có lo về cái chuyện phải chiến đấu với cái hơi thở ở cái trình độ Tứ Thiền này.
Một ví dụ:
Lấy một cái đồng hồ báo thức loại cổ lỗ xỉ (loại lên dây thiều) loại mà khi nó chạy, nó kêu một cách ồn ào: tích tắc... tích tắc đó. Kế đó là mình ngồi lắng nghe tiếng động của cái đồng hồ này, khi mình đã có thể nghe rõ cái tiếng tích tắc tích tắc của nó rồi, thì mình lại để cái đồng hồ đó cách xa mình hơn một tý. Kế đó là mình cứ ngồi yên tại chỗ cũ mà cố nghe cái tiếng động của cái đồng hồ đó. Sau khi nghe được rồi, thì lại đem cái đồng hồ đó ra xa hơn một tý nữa và cứ thế mà làm cho tới khi phải cố gắng lắm thì mình mới có thể nghe được nó. Tới đây, quý vị có để ý rằng: hơi thở của chính mình lại tự động chậm lại và đôi lúc mình lại tự động... nín thở để mà nghe chăng?
Tứ thiền cũng dùng một nguyên tắc đó để tự động quên hơi thở. Sau khi dùng cái đề mục của mình để vào được Tam Thiền (đề mục phát hào quang) thì mình lại đổi cái đề mục ấy thành những hình ảnh của những hòn bi có những màu sắc khác nhau và theo thứ tự như sau: Màu xanh dương, màu đỏ, màu xanh lá cây, màu vàng và cuối cùng là màu trắng.
Về đường kính của các hòn bi này thì có 2 (hai) giai đoạn:
1. Giai đoạn thứ nhất: là đường kính khoảng 3cm hay là to như trái banh cù (golf).
2. Giai đoạn thứ nhì: là tập trung vào ngay trung tâm của hòn bi, sự tập trung vào chỗ này, tự động làm cho hòn bi đó nhỏ lại và có đường kính là một ly (1mm)
Cách thực hành như sau:
Khi hòn bi xuất hiện ra ngay đằng trước mặt mình rồi và có cái màu mà mình muốn (ví dụ như là màu xanh dương, màu xanh da trời đó mà) thì mình lại tập trung vào ngay trung tâm của nó để làm cho hòn bi đó nhỏ lại. Sau khi nó nhỏ lại rồi, thì mình lại đổi cái màu của nó. Hành động này, muốn cho dễ làm, thì mình phải vẽ nó lại ở cái dạng có đường kính to hơn, có nghĩa là: như trái banh cù hay là khoảng 3cm. Sau khi nó có màu sắc khác (màu đỏ chẳng hạn) thì lại làm cho nó nhỏ lại bằng cách là nhìn vào ngay trung tâm của nó. Và cứ lập đi lập lại như vậy với những hòn bi có màu sắc khác nhau.
Hỏi: Tại sao lại là phải theo cái thứ tự màu sắc đó?
Đáp: Là vì màu xanh dương là âm, màu đỏ là dương, màu xanh lá cây (màu xanh đọt chuối) là tâm đã thanh tịnh, màu vàng là màu của sự giữ giới luật và màu trắng là... bảy màu hoà lại, và là màu đầu tiên để vào cõi Vô Sắc.
Hỏi: Tại sao phải làm cho hòn bi nhỏ lại?
Đáp: Là vì để nâng cao hơn nữa sự tập trung tư tưởng hay tình trạng nhập chánh định.
Nhập vào Tứ Thiền: Trong lúc đang làm như trên thì hành giả cảm nhận rằng thân thể mình nó rớt xuống một cái, y như là... máy bay nó xụp ổ gà vậy. Và các hòn bi biến mất và thay vào đó là một không gian trong và sáng, bao la và rộng lớn: Hành giả đã vào được tầng trời đầu tiên của Tứ Thiền Hữu Sắc. Các Ngài đã đặt tên là “Quang Quả Thiên” có nghĩa là chư Thiên ở những nơi có không gian quang đãng và rộng lớn. Hơi thở tự động biến đi trong khi nhập định bằng cái mẹo vặt thay đổi các đề mục như trên đã trình bày.
Mến.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Tu Mật Tông Phật Giáo theo Thầy Hai Lúa Hoa Sen Trên Đá   Tue Feb 07, 2012 5:25 am

Tâm Kính Đàn - Màn TV
Chào các Bạn.
Tâm kính đàn là cái rắc rối nhất của Mật Tông. Hai Lúa đệ cũng mày mò và cũng bí như thường. Câu chuyện cũng ly kỳ y như là... chuyện Tề Thiên.
Số là hồi còn ở Đà Lạt thì đệ có quen với một gia đình nọ (người Công Giáo) có biết về thuật Phong Thủy. Và khi an tán mộ cho gia đình thì họ cho đệ biết là nó bị méo 1 tý xíu khi canh cái hòm nhìn vào cái ấn trong 1 cái Long Mạch ở Đà Lạt. Và họ cũng cho đệ biết là nó ăn vào hàng cháu nhưng không được mạnh cho lắm. Và ba tháng sau thì nhóc tỳ P. nhỏ tự nhiên có khả năng thấu thị, chữa bệnh búa xua. Và dĩ nhiên là đệ làm quen với anh chàng nhóc tỳ này.
Và trong khi bàn về Thiên Văn: đệ có chơi 1 trò chơi là dùng ... tâm kính đàn (tự chế) ra để coi những tinh tú trên trời. Đệ nói với P. Nhỏ:
-- Ê, anh tìm ra cách này để nhìn ngôi sao mà không mỏi cổ nè!
P. Nhỏ hỏi:
-- Cách nào?
Và đệ lấy cái xâu chuỗi 18 hột ra và nói P nhỏ nhìn vào cái vòng của xâu chuỗi. P. Nhỏ nhìn vào và thấy y như là mình nhìn vào cái kiếng phản chiếu cả bầu trời và trong đó có những ngôi sao. P. Nhỏ phê bình, cách của anh cũng hay nhưng nó nhỏ quá vì vậy mà không dùng được gì. Đệ thấy cũng đúng. Và cũng không biết làm sao mà Zoom cái hình nó to và nhỏ theo ý mình muốn được.
Đó là giai đoạn đầu của "Tâm Kính Đàn".
Trong nhóm lu bu (nhón cư sĩ tu hành theo kiểu "tu chết bỏ" ở Đà Lạt) lúc bấy giờ còn lèo tèo những nhân vật tự phát. Trong đó có anh Hoà Lùn cũng đang tìm "Tâm Kính Đàn". Anh này thì làm... y kinh: Có nghĩa là sắm một cái gương "chưa có dùng" và tập coi có được gì hay không. Và tất nhiên là thất bại hoàn toàn: Anh ta tập siêng năng nhưng lại không được gì (Hoà Lùn mà đã tập cái gì là phải coi là 24 trên 24).
Thấy vậy đệ có nói cho anh ấy nghe là:
Gương nào mà họ đã chế ra thì đều có người nhìn vào hết, người nhìn đầu tiên là nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm! Do vậy điều kiện mà kinh đưa ra là không thể thỏa được. Phải có 1 cách nào khác để cái gương phải có những tiêu chuẩn sau:
1. Là không bị mất hay bể
2. Ở đâu dùng cũng được
3. Có thể Zoom hình theo ý thích.
4. Ngoài cái Thấy thì lại còn có thể "Nghe" được luôn.
Và dĩ nhiên tu sĩ phải biết: Cơ chế hoạt động của "Tâm Kính Đàn" nó ra làm sao? Thiếu 1 yếu tố là coi như là làm không ra. Thế là đệ coi lại thật là kỹ lưỡng cuốn Đức Phật Và Phật Pháp của Narada do Bác Phạm Kim Khánh dịch (cuốn sách độc nhất của đệ vào lúc bấy giờ). Thì đệ phát hiện ra Đức Phật, khi Ngài chứng các từng thiền, thì Tâm của Ngài lại sạch như "Gương" và tất cả các pháp đều hiện ra "Như Thật". Mừng như vớ được vàng! Đệ biết rằng chỉ có cách này mới có thể tìm và làm được "Tâm Kính Đàn".
"Tâm Kính Đàn" lần đầu tiên hoạt động.
Tất nhiên là muốn cho nó hoạt động thì đệ tu mò muốn tắc thở luôn, vì đâu có ai chỉ cho cái gì đâu. Chỉ dựa vào cái câu trong sách mà thôi. Sau 1 thời gian thì những khả năng tự nhiên phát triển. Thứ nhất là linh tính, cái linh tính nó trúng đến... kỳ lạ.
Chuyện rằng:
Đệ ngồi bật dậy và nói với vợ rằng:
-- Họ đi đến kêu anh đi chữa bệnh, anh đi nghe, nhớ cầu nguyện cho tớ đó!
Vợ cằn nhằn:
-- Ai mà kêu hai ba giờ sáng! Đi ngủ đi!
Nhưng đệ đã leo ra khỏi cửa sổ và đi ra ngoài ngõ và đi xuống đường Hai Bà Trưng. Một chiếc xe honda chạy từ dốc Cẩm Đô lên và đệ ngoắc anh chàng lại và nói:
-- Tui là Phước đây, em anh bệnh ra sao?
Người anh thắng xe lại và... muốn ỉa đùn trong quần:
-- Trời! Danh bất hư truyền, Vậy là em tui hết bệnh rồi!
Tất nhiên đó là hồi đệ còn sung sức, bây giờ thì già rồi và nhất là sau khi chết đi sống lại 4 lần vì tu trật. Nó không còn được như xưa nữa. Kế đó là cái thấy:
Bà xã đi xuống Sài Gòn và khi lên Đà Lạt thì không có nhắn tin hay "đánh dây thép". Đệ làm cho tâm thanh tịnh (thời đó đệ chưa biết đó là "Tứ Thiền Hữu Sắc”) và khi nghĩ về bà xã thì thấy bà xuống xe ngay khách sạn Palace vào ngày mùng 4 Tết hay sao đó lúc 12 giờ 44 phút trưa.
Cách xuất hiện nó như sau: y như là đệ nhìn vào một tấm hình màu: Đệ thấy xe khách ngừng lại và bà xã xuống xe ôm một người đàn ông (người đàn ông đó là đệ) và nói cái gì đó (Lúc này đệ chưa có nghe được).
Tiền cảnh của cái cảnh vợ xuống xe đó là: Một cái đồng hồ điện tử digital có ngày tháng năm cả Âm Lịch và Dương Lịch và giờ thì nó chạy như là đồng hồ bấm giây của các nhà thể thao vậy. Có nghĩa là có giờ (được biểu thi theo dạng 24/24; phút; giây; và sao.
Tất nhiên là đệ đi đón và đúng phóc.
Sau này đệ cố ý đoán sai để bả nhìn đệ ra thằng chồng, chớ không thì bả sẽ không được tự nhiên cho lắm.
Cơ chế hoạt động của "Tâm Kính Đàn"
Nó cũng không có gì là ầm ỷ và siêu nhiên. Chuyện thấy hay nghe đều xảy ra từ cái óc của mình. Do mình nhận kích thích từ bên ngoài qua các giác quan và được chuyển hệ thành giao động thần kinh và từ giai động thần kinh này mình mới thấy, nghe... được. Cũng lợi dụng vào cái đó nên khi tu sĩ có cái tâm thanh tịnh rồi thì khi chú ý đến cái gì thì cái óc nó bị kích thích và nó cho mình thấy, nghe, rờ, cầm... Do vậy chỉ cần vào Tứ Thiền là tâm đã thanh tịnh đủ để kích thích cái óc khi tu sĩ tác ý vào 1 đề tài nào. Tất nhiên, nó đều có mức độ sâu dầy của nó: Để cho dễ hiểu thì các Bạn nên đụng bàn tay lên cái đầu của mình trước và đọc:
Trước nhất là cái linh tính:
Tâm đã tới Tứ Thiền thì bộ óc nó nhạy cảm nhưng chưa thấy gì được. Có nghĩa là bộ óc đã thanh tịnh nhưng chưa đụng con mắt.
Sau đó là Bạn đem bàn tay xuống 1 tý và đụng tới cặp mắt và đọc tiếp:
Kế đó là vì độ thanh tịnh nó sâu hơn nên nó lấn xuống tới cặp mắt. Vì thế lúc này mới có thể thấy được.
Tiếp theo là lấn xuống lỗ tai. Vì thế mà có thể nghe được.
Sâu hơn nữa là tới lỗ mũi. Vì thế mà có thể ngửi được.
Và sau đó là rờ được và có thể xô hay nâng được.
Trên đây là tự phát nên nó lộn xộn và không có phương pháp cho rõ. Sau này đệ chia ra thành từng phần để tu sĩ khác có thể tập được dễ dàng hơn, đệ chia ra như sau:

1. Dùng đề mục để chứng các từng thiền
2. Quán một cái màn ảnh như màn ti vi to cỡ 9cm x 12cm
3. Sơn cho màn ti vi đó nó có màu trắng y như hột gà luộc và bóc vỏ.
4. Giữ cái màn ti vi này 24 trên 24 trong vòng 1 tuần.
5. Sử dụng cho việc đời thì Màn ti vi lại nằm ngang (tự động)
6 Sử dụng cho việc Đạo thì màn ti vi lại dựng đứng (cũng tự động).
Nhiên liệu để chạy màn tivi hay là "Tâm Kính Đàn":
1. Giữ giới luật cho thật là ngon lành.
2. Kiểm tra tư tưởng liên tục (có nghĩa là không có chuyện giải lao)
3. Và Thiền Định.
VÔ SẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP TU TẬP
Đó là 5 trạng thái tâm lý khác nhau hoàn toàn: Không thể giải thích cho cặn kẽ được... trừ khi Anh tới đó vì: Lời nói viết chỉ là một phần thôi còn khi Anh đạt được nó rồi lúc đó Anh mới hiểu rõ nó trong cái toàn diện.
1. Không vô biên Xứ: Hư không là vô biên có cái cảm giác là mình “trải rộng ra” vô biên.
2. Thức Vô biên Xứ: Tâm thức không còn gì hết. và có rõ ràng cái cảm giác là nó rộng và to lớn, vô biên.
3. Vô sở hữu xứ: Không có cái gì thuộc về mình cả. Và vẫn có cái cảm giác là nó rộng lớn vô biên.
4. Phi tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: Nói rằng người đó Có Tư Tưởng thì không đúng nhưng nói rằng họ không có tư tưởng thì cũng không đúng luôn. Kèm theo một cảm giác là sâu xa thẳm và rộng lớn vô biên.
5. Tánh Không: Vô Ngã, trong veo và vắng lặng hí hí
Phương Pháp Tu Tập
Không Vô Biên Xứ:
Điều kiện:
Xuất và nhập Tứ Thiền Hữu Sắc dể dàng như ... cao bồi rút súng vậy.
Đề mục:
Nhắm mắt 100% và quán tưởng về một cái chấm trắng nhỏ như vầy đây: (.)
Diễn tiến:
Chấm trắng nhỏ xíu (càng nhỏ càng tốt) sau một thời gian được hành giả khéo léo an trú thì đã có thể phát ra những tia sáng. Những tia sáng này càng lúc càng sáng và càng lúc càng lan rộng ra, và chiếm dần khoảng không gian (màu đen) bao la và rộng lớn. Sau khi lan rộng một mức độ nào đó thì những tia sáng này ngừng lại, không thể lan rộng thêm nữa. Và bước kế tiếp là những tia sáng này biến thành những màu sắc của cái cầu vòng. Diễn tả thêm về những màu sắc này. Những màu sắc này không có giới hạn riêng biệt của nó mà chúng lại nhoà dần và đồng thời chuyển dần sang từ màu này qua màu kia (y như sự chuyển biến các màu sắc trong cái cầu vồng vậy).
Vì đôi lúc, trong quá trình tu chứng ở cõi Hữu Sắc, hành giả cũng có lúc lại có cái cảnh Không gian đầy màu sắc. Nhưng những màu này nó không như là màu sắc trong cái cầu vòng mà nó lại có ranh giới hẳn hoi. Cảnh này là cái tâm sân hận.
Khả năng:
Cõi đầu tiên của Vô Sắc là: Không Vô Biên Xứ, đạt được cảnh giới này thì hành giả có khả năng cảm nhận được những cảm giác của một chúng hữu tình nào đó. Một ví dụ: NP (thằng nhóc của Cô Bé Hàng Xóm) mới có 13 tuổi, khi nó vào được cái cảnh giới này thì khi nó tập trung vô cây ớt thì nó biết là cây nó đang khát nước! Và khi nó ngắt trái ớt thì nó biết là cây ớt nó bị đau. DP (em của nó) cũng vào được lớp định này và nó hay để ý tới đệ và khi đệ đau cái dây thần kinh toạ thì nó nói nó cũng đau chỗ đó!
Như vậy cái cảm giác của thân thể hành giả nó không còn giới hạn trong cái thân thể của mình nữa mà nó lại có thể lan ra đến độ ... không còn biên giới nữa. Do đặc tính này mà cõi này mới có tên là: Không Vô Biên Xứ.
Thức Vô Biên Xứ
Nhập vào từng lớp định này là cả một vấn đề, vì cái màu sắc trong không gian làm hành giả chia trí và khó tập trung cho được vào cái chỗ của ngôi sao đã biến đâu mất tiêu rồi. Tuy vậy với cố gắng và sự tinh tấn, hành giả rồi cũng làm được. Lần này hành giả sẽ thấy được nguyên cả cái không gian đã được nhuộm bởi màu sắc (y như cầu vồng).
Kết quả là hành giả có thể đọc tư tưởng một cách dễ dàng. Ví dụ:
Cô Bé Hàng Xóm lại báo cáo với đệ là hai đứa nhỏ , sau khi vào được Thức Vô Biên Xứ thì:
“Tụi nó nói chuyện với nhau bằng ... Thần Giao Cách Cảm. Người ngoài sẽ không nghe gì hết và cũng không hiểu gì hết luôn. Chỉ thấy tụi nó lắc đầu và gật đầu mà thôi. Y như là mình coi phim câm.

Vô Sở Hữu Xứ
Hành giả cũng ngay vào chỗ cái ngôi sao mà chú tâm thì, bỗng nhiên không gian từ từ đen ngòm lại và tuy rằng đen ngòm nhưng hành giả có thể cảm nhận được sự to lớn của nó. Kết quả hành giả có thể cùng một lúc cảm nhận được người khác đang đau ở chỗ nào và cũng đồng thời đọc được tư tưởng của họ luôn.
Con Người thì gồm có hai cái: Thể xác và tư tưởng, nay do lớp định này mà hành giả đã có thể phá tan cái giới hạn của hai cái thể này! Cả hai đều trải rộng ra vô tận, nên cả hai không còn thuộc về mình nữa do vậy mà nó có tên là: Vô Sở Hữu Xứ.
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Cũng cái chỗ đó mà hành giả tập trung tư tưởng vào không gian càng bao la và càng đen ngòm.
Kết quả: sự im lặng tư tưởng nó có thể kéo dài lâu cỡ nào cũng được. Thô tâm và vi tế tâm đã bị định lực khuất phục. Đến độ, hành giả có cảm giác là mình đã thanh tịnh thật sự rồi. Nếu và chỉ nếu ... khi hành giả thật sự chú tâm vào cái sự thanh tịnh này thì bất chợt hành giả tự hiểu rằng:
Thứ nhất, đây là một sự thanh tịnh rất là cao cấp. Từ hơi thở đã chấm dứt từ lâu (nếu hành giả vào lớp định này cho thật là sâu)
Thứ hai: Nhưng ... não bộ vẫn còn hoạt động. Do vậy mà bản ngã vẫn còn mạnh như tự thủa nào.
Trạng Thái Tâm Lý ở Vô Sắc
Đó là 5 trạng thái tâm lý khác nhau hoàn toàn: Không thể giải thích cho cặn kẽ được... trừ khi Anh tới đó vì: Lời nói viết chỉ là một phần thôi còn khi Anh đạt được nó rồi lúc đó Anh mới hiểu rõ nó trong cái toàn diện.
1. Không vô biên Xứ: Hư không là vô biên có cái cảm giác là mình “trải rộng ra” vô biên.
2. Thức Vô biên Xứ: Tâm thức không còn gì hết. và có rõ ràng cái cảm giác là nó rộng và to lớn, vô biên.
3. Vô sở hữu xứ: Không có cái gì thuộc về mình cả. Và vẫn có cái cảm giác là nó rộng lớn vô biên.
4. Phi tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: Nói rằng người đó Có Tư Tưởng thì không đúng nhưng nói rằng họ không có tư tưởng thì cũng không đúng luôn. Kèm theo một cảm giác là sâu xa thẳm và rộng lớn vô biên.
5. Tánh Không: Vô Ngã, trong veo và vắng lặng hí hí
MINH SÁT TUỆ

Là trí tuệ quán xét mình hay chứng và đắc câu:

“THÂN NÀY KHÔNG LÀ TA, LINH HỒN NÀY KHÔNG PHẢI TA, TƯ TƯỞNG NÀY KHÔNG LÀ TA.”

Nhập từ SƠ THIỀN tới TỨ THIỀN (dựa vô đề mục), kế đó quán một màn tivi trắng như hột gà bóc, giữ càng lâu càng tốt. Tâm niệm: THANH TỊNH, THANH TỊNH… cho tới lúc bị NGỘP THẬT SỰ, lúc đó cố gắng niệm tiếp một niệm QUYẾT ĐỊNH: THANH TỊNH !
Tu sĩ sẽ thấy hình ảnh của mình xuất hiện trên màn tivi. Ở đây tu sĩ lại rất XA LẠ với hình ảnh đó: Không biết đó là AI? Không biết nó tên gì?
Nếu suy nghĩ về TRÁI ĐẤT thì có cảm giác: Tôi chưa sinh ra ở đó một (1) lần nào!

DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH

Muốn nhập vào trạng thái đầu tiên của quy trình Diệt Thọ Tưởng Định thì hành giả dùng cái niệm "Thanh Tịnh" ở vào trình độ Tứ Thiền Hữu Sắc:
Khi trạng thái "Thanh Tịnh" tác động ngược vào chính ngay thân thể của hành giả thì hành giả sẽ cảm thấy như mình đang bị ... ngợp thở vậy .
Lời bàn: Hiện tượng này thật ra cũng là bình thường hết sức là vì: các Ngài đã từng nói rằng: "Tâm Thanh Tịnh thì Cảnh Thanh Tịnh". Do cái xì xụp của hơi thở nó còn hoạt động nên theo đúng nghiã của chữ "Thanh Tịnh" thì thực tế rằng mình đang còn ... giao động :-). :-). :-). do vậy mà khi nhập vào Tứ Thiền Hữu Sắc thì tâm lực lúc này rất là mạnh nên khi niệm "thanh tịnh" thì việc đầu tiên nó sẽ tác động vào hơi thở của mình.
Với cái đặc tính "Dũng" của một người đã từng thề rằng: Một là sanh cỏ, hai là đỏ ngực: nay con đã quyết chí đi theo con đường của Ngài thì nhằm nhò gì ba cái chuyện ngợp thở này. Đọc xong thì hành giả tự chiến đấu với cơn ngợp thở và cố gắng niệm cho được cái niệm "Thanh Tịnh" cuối cùng trong lúc nhập chánh định cao độ này:
Do trạng thái nhập chánh định cao độ này cộng với cái niệm "Thanh Tịnh" kia: Hành giả đã có thể quên được cái bản thân và ... lọt vào "Chân Như" qua
***Cái "Thấy***
Hiện tượng kế tiếp là:
Hành giả nay đã là *** Cái Thấy*** thấy hình ảnh của một anh chàng đang ngồi kiết già ở trong một cái khung hình dựng đứng. Đối trước cái hình ảnh của anh chàng này, ***Cái Thấy*** lại có cảm giác rằng đã có thấy ông này ở đâu đó nhưng lại không biết ở đâu, cảm giác quen quen và ngờ ngợ này rất là lạ kỳ :-). khi nhìn vào cái hình ảnh này ***Cái Thấy*** lại ... hiểu rằng cái anh chàng này sao mà ngu ngu và khờ khờ và không được ... bình thường lắm :-). :-):-).
Khi tác ý vào Trái Đất thì một tư tưởng lại xuyên qua đầu mình từ bán cầu Phải sang bán cầu Trái của cái não bộ của mình như sau:- - Tui chưa từng sanh ra ở đó một lần nào cả !!!
Thập phương Chư Phật không chấp nhận bất cứ một trường hợp “Bất Kỳ” nào cả. Do vậy, chuyện vào Diệt Thọ Tưởng Định phải hội đủ những điều kiện tối thiểu sau đây:
1. Tâm lực phải đủ mạnh, có nghĩa là trình độ Nhập Định phải là Tứ Thiền Hữu Sắc. Tâm lực này biểu hiện qua ngũ thông. Mà mình có thể tập được.
2. Ý đồ Giải Thoát phải là cái đích để đến, Không nuôi dưỡng và tìm cách thực hiện cái ý đồ này thì “Không có chuyện Giải Thoát” cho dù có tu theo... Đạo Phật.
3. Bí quyết vào Diệt Thọ Tưởng Định phải được học thuộc nằm lòng.
4. Hành giả phải hiểu rằng khi vào đó xong thì hơi thở sẽ ngừng hoạt động. Do vậy, phải một mất một còn với cái... hột cát hơi thở này.
5. Họ cũng là người và đã làm được thì mình phải làm được. Chỉ hơn thua phương pháp mà thôi, nay mình đã được biết phương pháp rồi thì chỉ có làm mà thôi, không thèm nói nữa.
Cũng như là biết bơi rồi vậy, kể từ giây phút này thì có quăng xuống nước thì bì bõm lội được thôi. Không quên được. Tất cả những từng lớp thiền đều còn đó, một khi đã tập qua. Chỉ có cái đặc biệt là khi giải thoát xong thì cái tư tưởng lại xẹt qua xẹt lại trong đầu của mình như sau: “Tu đã thành, học đã xong, tui làm việc tui làm”.
Mục đích của những tu sĩ PHẬT GIÁO. Ở đây tu sĩ đã lọt vô được CHÁNH ĐẠO. Còn phần trước là TIÊN ĐẠO hay còn gọi là TÀ ĐẠO hay con đường chưa tu được hết.

Nếu vô được: 1 lần (TU ĐÀ HƯỜN).
2 lần (TU ĐÀ HÀM).
4 lần (A NA HÀM).
7 lần (A LA HÁN).

Tương tự như MINH SÁT TUỆ, nhưng cho tới khi bị NGỘP thật sự, cố gắng niệm 1 trong 3 PHÁP ẤN:

1. ĐỜI: VÔ THƯỜNG
2. PHÁP: VÔ NGÃ
3. THỌ: THÌ KHỔ.
Hay: KHỔ, VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ. Là lọt vô.

Ở đó nếu tu sĩ có ý niệm về một vật hay một nhân vật nào đó thì: tu sĩ sẽ LÀ NÓ, bằng cách: Tu sĩ MANG HÌNH DẠNG nó và có những RUNG ĐỘNG đặc biệt của nó. Nếu không muốn tập nữa thì thôi. Khi ra khỏi tình trạng đó, tu sĩ sẽ nhận thấy rằng: TIM và PHỔI đều ngưng hoạt động trong lúc CHỨNG QUẢ.
Đọc Thêm: Kinh Nghiệm Diệt Thọ Tưởng Định
NGỘ ĐẠO – NHẬP LƯU

Thường được nói đến rất nhiều trong các tài liệu về THIỀN TÔNG, nhưng ít ai biết THỰC CHẤT nó là như thế nào: dựa vô đâu mà các thiền sư nói người này NGỘ, người kia chưa NGỘ? Lúc nào thì tu sĩ có khả năng NGỘ? Nói như thế có nghĩa là khi nào thiền sư mới cho thiền sinh MỘT CÔNG ÁN? Biểu hiện của người NGỘ ĐẠO là như thế nào?

Ở đây chỉ là những nhận định và những kinh nghiệm của những bật đàn anh đã tu chứng và truyền đạt lại cho chúng ta, nên tu sĩ có TRỌN QUYỀN nghe theo hay không tùy:

1. Lúc nào tu sĩ có KHẢ NĂNG ngộ đạo?
Lúc tu sĩ chứng và đắc NHỊ THIỀN. Lúc bấy giờ, tu sĩ TẠM THỜI ngưng công phu và chuyển sang một trong hai câu hỏi sau:

a. Phật tánh Ở KHẮP MỌI NƠI, mà sao mình không biết cà?
b. Vạn vật ĐỒNG NHẤT THỂ, tại sao mình lại không biết cà?

2. Biểu hiện của người ngộ đạo là như thế nào?
Trong khi đang nhập định với tư tưởng trên, sẽ có một lúc tu sĩ cảm thấy mình TAN RA hay BIẾN ĐÂU MẤT và tu sĩ có cảm giác rằng: Mình ở KHẮP CẢ MỌI NƠI, tuy nhẹ nhưng cảm giác đó GÂY TÁC DỤNG rất MÃNH LIỆT trên thân thể của tu sĩ: Bằng chứng là, tu sĩ BỊ NGẦY NGẬT SUỐT 24 GIỜ (kể từ lúc có cảm giác được nói ở trên).
Xin nhắc lại cho KỸ: Thời gian ngộ đạo rất ít khi XẢY RA TRONG LÚC CÔNG PHU, mà thường xãy ra lúc ta đang SINH HOẠT bình thường (hay lúc ĐI, ĐỨNG, NẰM, NGỒI).

Khi hành giả Ngộ Đạo thì hành giả sẽ phải qua một quy trình tạm gọi là: Quy trình Reset!
Có nghĩa là cái hệ thần kinh của hành giả hiện nay chỉ hoạt động theo chiều hướng của Nghiệp Lực mà thôi. Sau khi được gọi là “Nhập Lưu” hay “Ngộ Đạo” hệ thần kinh của hành giả sẽ rung động để thấm nhuần cái Chân Lý mà hành giả chỉ mới nếm được trong một chớp mắt mà theo danh từ chuyên môn: thời gian ngắn ngủi đó còn được gọi là một “Sát Na”. Sự rung động của hệ thần kinh trên sẽ làm cho hành giả chóng mặt trong suốt 24 giờ kể từ lúc hành giả Ngộ Đạo

VÀ NẾU, KHÔNG CÓ CẢM GIÁC NGẦY NGẬT VỪA NÓI TRÊN, LÀ CHƯA ĐÚNG.

3. Dựa vô đâu mà thiền sư nói người này NGỘ?
Dựa vô THẦN THÔNG, Với THIÊN NHÃN thanh tịnh, Thiền sư thấy ngay GIỮA NGỰC ai đó CÓ MỘT CHỮ VẠN VỚI ĐƯỜNG KÍNH 10cm MÀU VÀNG SÁNG CHÓI! Và ông ta nói ngay, nói một cách KHÔNG NGƯỢNG MIỆNG, nói rất CHƠN CHÁNH và rất CHÁNH NGỮ rằng:
“NÀY BẠN, BẠN ĐÃ NGỘ ĐẠO! Nhưng tôi có BỔN PHẬN phải nhắc với bạn rằng: Bạn còn CÁCH PHẬT RẤT XA! Y như bạn vừa mới lấy BẰNG XÓA NẠN MÙ CHỮ xong, nhưng bằng này được cấp cho bạn VỀ PHƯƠNG DIỆN TÂM LINH. Vì bạn chỉ mới NGỘ, còn NHẬP nữa!”.

LỜI DẶN: Nếu trước khi nhập định mà thấy: CON MẮT TRÁI, HOA RƠI, NGƯỜI LÚC NHÚC, NHIỀU NGƯỜI NGỒI XẾP BẰNG KHÔNG CÓ Ở TRÊN HOA XEN NÀO CẢ, NGHE TIẾNG NÓI BÊN LỔ TAI, TỨC NGỰC, NGỬI ĐƯỢC MÚI THƠM…. MỘT CÁCH BẤT NGỜ:

Thì phải ngừng ngay! Và tập HỘ THÂN, nếu không sẽ bị CẢNH GIỚI CHI PHỐI!
TB: Kinh nghiệm của bản thân đệ là: khả năng Ngộ Đạo cao nhất là trình độ nhập vào Nhị Thiền: Khi hành giả đã thấy đề mục rồi và kèm theo trạng thái tâm lý là "sợ đề mục lại mất đi". HL
Không có tâm đi tìm sự Giải Thoát
thì sẽ không bao giờ được Giải Thoát
cho dù có tu Đạo Phật.” HL
Kinh Nghiệm Diệt Thọ Tưởng Định
Sự thành hình một Bồ Tát trong tiến trình công phu của bọn lu bu là như sau: (Đường lại trơn trợt. xin quý vị giảm tối đa vận tốc đọc lại :-). :-). :-).
1. Vào cho được Diệt Thọ Tưởng Định.
2. Sau khi ra khỏi tình trạng đó thì phải xào nấu một cái suy nghĩ như sau:
- - Chết cha! Chuyện này (công thức vào Diệt Thọ Tưởng Định) đâu có dễ gì ai mà biết được. Mà Đức Bổn Sư đã cố gắng dùng ngôn ngữ để diễn tả theo kiểu gợi ý và được các Ngài ghi lại rải rác trong các cuốn kinh. Mình hoàn toàn nhờ vào phước báu mà tìm lại được. Như vậy, để trả ơn Ngài thì chỉ còn có một nước duy nhất làsống một cuộc đời lưu vong, sống không biên giới :-).
Để khi có dịp là trình bày lại nguyên con công thức này, để cho ai muốn bàn thì cứ việc bàn, và ai muốn tập thì cứ việc tập. Việc bàn và tập đều có ích lợi như nhau:-).
Xào nấu cái ý nghĩ trên cho đến lúc nó thôi thúc trong lòng của đệ thì đệ lại vào Diệt Thọ Tưởng Định một lần nữa :-).
Thế nhưng, vì nó là nơi không còn cái Thọ, không có cái Tưởng và không có cả luôn cái Định nên chuyện đọc lời Đại Nguyện lại là một chuyện không đơn giản như đệ nghĩ: Đệ bị quên J
Khi ra khỏi tình trạng đó thì đệ lại hiểu rằng: mức độ thôi thúc chưa đủ cái lực nên khi vào cái tình trạng An Chỉ của Tốc Hành Tâm (sát na thứ năm của luồng Javana) thì mình lại bị quên luôn :-). :-). :-). Và cũng rất là ... dễ hiểu:
Nó là An Chỉ nên khi tới đây, nếu nguyện lực không đủ mạnh thì nguyện lực sẽ bị cái An Chỉ này nó xoá :-). :-).:-).
Khi trở về lại thì đệ phải xào nấu lại nguyện lực và làm cho nó mạnh hơn bằng cách ngắm nhìn cái cảnh những cụ già ngồi nhìn trời ... chờ chết! Hay những bạn trẻ đang đi học, để rồi lao vào đời, để rồi cuối cùng là già và buông tay, ... chờ chết!!! Trước cảnh đó, đệ tự nhủ rằng:
Mình không thể nào để cho Bạn Bè mình như vậy được!!!
Cho tới lúc đệ bị ám ảnh luôn thì đệ lại vào Diệt Thọ Tưởng Định một lần nữa và lần này đệ đọc được Tứ Đại Nguyện và sau này tu Mật Tông thì đệ lại vào đó một lần nữa để đọc Lục Đại nguyện :-). Thì cái lực của Lục Đại Nguyện và Tứ Đại Nguyện đều là như nhau, không có cái nào mạnh hơn cái nào cả
Đọc xong thì trong cái thanh tịnh của "Đạo_Quả_Một" (vốn là sát na tâm thức thứ sáu của luồng javana) đệ lại thấy một hình ảnh của các Bạn Bè mình :-). mới đầu chỉ có một ... Cô (Cô Vân) sau đó một thời gian thì thêm một Cô nữa (Cô Trang) và khi tới Ba Danh rồi Cô Hồng thì đệ thấy rất là nhiều người nữa...
Nay trả lời câu hỏi quá là hay của Huynh KKT:
Khi Huynh hỏi như vậy thì cái trực giác của đệ là:
Khi Vô Minh thì chính cái Nghiệp nó đi đầu thai :-). Do rằng đây là cái nghiệp nên mình không có quyền lựa chọn :-). :-). :-). nên kết quả là tình trạng bi đát mà mình thường gọi là : Đoạ đày hay trôi lăn ... Còn khi là Bồ Tát thì chuyện trên (đầu thai) lại là do ... cái Nguyện nó đi đầu thai. Do vì là cái Nguyện nên mình sẽ nhập thai biết, xuất thai biết, y như những tulkus đã từng làm :-). :-). :-).
À! còn một chi tiết là khi bọn lu bu vào Mật Tông để tìm phương tiện giúp đỡ Bạn Bè thì họ phải qua một trận đọ sức với Đại Nguyện Điạ Tạng Vương Bồ Tát tại Điạ Ngục A Tỳ. Sau khi đọ sức xong và đã thắng Ngài rồi, thì các vị Bồ Tát này lại thuộc về hệ thống của Liên Hoa Tạng. Trong nhóm lu bu có Cô Vân, Cô Trang: Họ sống lưu vong, không nhà, không cửa, họ sẽ là Bồ Tát cho tới khi ... Trên chuyến xe cuối cùng chở bà con về Niết Bàn thì họ sẽ bu sau cốp xe để về đó luôn :-). :-). :-).
Mến :-).
Hai Luá :-).
Câu hỏi này để hỏi luôn cho trường hợp các vị Tulkus Tây Tạng, cứ đầu thai từ kiếp này sang kiếp khác để độ sinh :-))
BY: :-))) Thôi đi , Anh HL ơi !!! ... Anh rủ vào << Diệt Thọ Tưởng Định >> gì đó à ?? .
HL: Đệ nghĩ rằng chị nên chú trọng đến tính cách vô thường của các pháp, trong cách tập trung của chị để theo dõi này nọ: Tóm lại chị để ý đến tính cách huỷ hoại của nó :-). :-). và khi chị có cảm giác là hết đường chạy thoát :-). có nghiã là khi nhìn đâu thì chỉ cũng thấy cái sự huỷ hoại nó nằm ở đó, chị có một nỗi niềm là hơi chán chán cái cảnh này.
Khi chị hội đủ cái cảm giác này trong vòng một tuần thì: Chị hay suy nghĩ như sau:
Vạn Vật đồng nhất thể mà sao mình không biết cà!
Hay là câu: Phật Pháp ở khắp mọi nơi mà sao mình không hay cà!
Hai câu đó, chị chọn một câu và câu nào cũng được, chỉ đặt vấn đề thôi.
Đây cũng là cách nối tiếp cách của chị để vào đó một lần thôi, mà không có xì khói gì cả :-). :-).
Mến :-).
KKT: Chỗ này phải diễn nôm thêm giùm huynh HL kẻo bà con có người không hiểu. Huynh HL muốn nói là vào Diệt Thọ Tưởng Định đó! Trong cái định này không còn thở và con người không khác thây chết. (Đúng không huynh HL?)
HL: Đúng vậy.
Khi vào Tứ Thiền và vào sâu thật là sâu thì hơi thở nó ngừng (Đọc phần đầu của kinh Duy Ma Cật... *** Như hơi thở của Tứ Thiền ***). Thế nhưng, thực tế: hơi thở... nội tức vẫn còn. Có nghĩa là sự trao đổi dưỡng khí tuy là ít, nhưng vẫn là... còn. Cái ý chí muốn sống chưa bị quất sụm trong điều kiện này. Muốn dứt điểm nó thì phải dùng cách khác. Chớ nếu mà mình cứ cắm đầu cắm cổ mà húc theo kiểu này thì không cách gì mà được và đây chỉ là pháp tu của Chư Thiên, không phải là của Đức Phật. Thua keo này, ta bày keo khác. Đệ xuất định và suy nghĩ như sau: Ai đó đã có nhận xét rằng: ***Tình buồn thì cảnh có vui đâu bao giờ?*** Thì ở đây nếu "tâm mình thanh tịnh thì cảnh thanh tịnh" suy nghĩ như vậy xong là đệ lại vào lại Tứ Thiền nhờ vào đề mục ngọn lửa quen thuộc. Nhập thật sâu vào Tứ Thiền thì từ Quang Quả Thiên (Chư Thiên với cảnh giới bao la trong sáng và rộng lớn), tới cảnh Vô Tưởng Thiên (ở đây cảnh giới nó đứng lại, tất cả đều im lặng y như cái cảm giác, nếu quý vị nào có đi chơi hang động và khi tất cả đều im lặng và tắt tất cả đèn thì quý vị sẽ cảm nhận cái cảm giác tương tự như khi vào từng thiền này) đến độ một tư tưởng cùng khó mà phát ra được! Vì vậy mà các Ngài đặt tên cho nó là Vô Tưởng Thiên.
Chìa khoá vạn năng để mở toang cánh cửa của tầng thiền này là đọc Tứ Đại Nguyện. Đọc được xong trong từng thiền này rồi thì đệ lại nằm ở ngay ngưỡng cửa của Vô Phiên Thiên (Suddhavasa) nhưng không làm sao mà tiến tiếp được. Nếu để ý thì không khí ở đây cũng... được lau chùi và đánh bóng luôn. Cảm giác tinh khiết 100% xâm chiếm tâm thức của đệ. Và đệ làm được một việc khó làm: Đọc xong Tứ Đại Nguyện thì đệ cố chuyển qua hai chữ then chốt của buổi công phu đó là: Thanh Tịnh. Sự chuyển từ tư tưởng này qua tư tưởng kia, ở đây, là nhanh như điện. Còn khi nhập vào cái tầng thiền này thì nó lại chậm như vết dầu loang vậy. Phải một thời gian sau thì đệ mới niệm được hai chữ ***Thanh Tịnh*** rồi ***Thanh Tịnh*** rồi ***Thanh Tịnh*** Cứ từng phát một như vậy mà đệ làm tới! Mỗi lần niệm được một lần như vậy thì sự thanh tịnh nó tăng lên và nó càng tăng lên nữa... cho tới khi: bỗng nhiên đệ có cảm giác là ngợp thở! Cơn ngợp thở bất ngờ này ập tới và làm cho đệ tuột định một cách thê thảm... và sau cùng là đệ xuất định. Đầu óc còn xây xẩm vì cơn tuột định đột ngột này. Đệ bàng hoàng không hiểu là tại sao có hiện tượng này? Đúng hay sai?
HL: Chỗ này nên phân biệt để có cái nhìn trọn vẹn vấn đề:
Mất hơi thở, nó có hai trình độ.
Bên ngoài: Hơi thở tạm ngừng.
Bên trong: Sự trao đổi dưỡng khí cũng dừng luôn (nội tức). Và hoạt động Não Bộ cũng ngưng luôn. Hội đủ ba điều kiện này: đó là Diệt Thọ Tưởng Định nói theo danh từ Việt Nam là: Không còn cái Thọ, cái Tưởng và kể cả cái Định. Còn về cái thời gian thì thực tế nó không có tiêu chuẩn nhất định: nó sẽ là từ một sát na cho tới bảy ngày, bảy đêm. Có nghĩa là muốn ở lâu thì cái tâm lực phải đủ mạnh.
Một ví dụ:
Dùng một cục bông gòn, nhúng nước rồi thảy nó lên trần nhà, hành giả sẽ thấy: Nếu độ ẩm của nó không đủ và cái lực ném không đủ mạnh thì nó đụng cái trần và rớt xuống liền. Nếu độ ẩm của nó hơi nhiều và cái lực ném mạnh hơn thì nó sẽ dính lên đó lâu hơn. Nhưng nếu nó ướt sũng và lực ném lại rất là mạnh thì nó chèm nhẹp ra và nó sẽ dính lên đó rất là lâu. Lực và độ ướt của cục bông gòn có thể ví như là phương pháp tu học phải tròn đầy, và tâm lực phải đủ mạnh.
HL: Đứng trước ngưỡng cửa của Vô Phiên Thiên, và khi niệm thanh tịnh thì đệ liền đụng hiện tượng... ngợp thở. Đệ bị tuột định một cách thê thảm và choáng váng xuất định. Phải dưỡng sức một tuần sau thì đệ mới đủ bình tĩnh để phân tích tình hình.
Đệ có cái suy nghĩ như vầy: Tâm thanh tịnh thì cảnh thanh tịnh là đúng hoàn toàn. Và cái ống khói xì xà xì xụp trong thân mình là một... cảnh chưa có thanh tịnh. Nên khi mình niệm thanh tịnh ở trạng thái Tứ Thiền thì cái niệm nó có lực và tất cả những cái gì không có thanh tịnh thì nó sẽ làm cho thanh tịnh. Suy diễn như vậy xong thì đệ an tâm liền. Mà an tâm thì đệ lại húc tiếp: Đệ lại vào trạng thái ngợp thở này thêm một lần nữa. Và khi đối diện với nó thì đệ vẫn không đủ can đảm để tiến tiếp. Đệ lại xuất định, nguyên nhân: Sợ. Sau đó đệ đi tìm xem các Thầy ở Chùa có đụng tới tình trạng này chưa? Thì ở ngay Đà Lạt vào năm 1983, không có ai gặp cái cảnh này cả. Các Thầy bàn ra là:
-- Thôi đi anh ngừng lại đi tui thấy nguy hiểm quá.
-- Tại sao không đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì nghỉ mà ông kiếm tìm cái gì mà nghe ghê quá vậy. Có khi là Ma cảnh đó.
-- Tui có cảm giác là đúng hướng rồi đó nhưng tui khuyên anh là ngưng lại đi. Chẳng qua là cảnh của Đức Phật tập nhịn thở mà thôi, chớ Thiền định mà... gì kỳ vậy?
-- Bổn lai vô nhất vật, cái bản tánh nó vốn thanh tịnh đó là căn cước của mọi người. Có ai mà đi tìm cách nhận chìm hơi thở rồi cho đó là thanh tịnh đâu nà? Như thầy đây, đói thì ăn, khát thì uống... Vô uý như vậy đó, đây mới là thanh tịnh còn anh là tự làm rối loạn. Anh nên nghe lời thầy, nên ngừng nghỉ lại. Đây là tà pháp, không có kinh sách nguyên thủy nào mà nói đến cái hơi thở nó sẽ ngừng khi nhập định cả.
Thế là đệ về nhà với ý định là "tới luôn bác tài". Bí quá thì đệ chế đại cái câu cầu nguyện quái đản như vầy:
-- Thân tứ đại này coi như bỏ, cầu chánh pháp cho đờisau. Nhiều lúc con có quên các Ngài thì các Ngài đừng cóquên con.
Cầu nguyện xong thì đệ chuẩn bị kỹ càng bằng cách gìn giữ sức khỏe và kiết giới đàng hoàng trước khi ăn cũng như khi uống... kiểm soát tư tưởng liên tục và chuẩn bị tiến tu. Đệ lại vào cái cảnh đó nữa và khi ngợp thở thì đệ phải quay lại cái suy diễn đã được trình bày ở trên. Sau đó là cố gắng niệm thêm, cái niệm cuối cùng: ***Thanh Tịnh***. Trong cái thấy: một cái khung hình xuất hiện và một hình ảnh về một anh chàng bận đồ nhà binh, ngồi kiết già: Cái thấy này ghi nhận rằng đây là một người quen quen mà không biết là ai. Nhìn vào anh chàng này thì cái thấy lại cho rằng không được bình thường cho lắm và lại ngu ngu nữa. Cái thấy lại không biết anh chàng này ở đâu và làm nghề gì. Một lần nữa thì cái thấy chỉ thấy là quen quen.
Kế đó cái thấy lại nhìn ra luôn cả trái đất, khi hình thể hòn bi màu xanh này xuất hiện trong cái khung hình thì cái thấy lại hiểu rằng:
-- Tui chưa một lần sinh ra ở chốn này.
Và sau cùng, không biết là đệ ở trong tình trạng thanh tịnh này bao lâu nhưng khi cái pháp nó đến hồi diệt thì đệ từ từ cảm nhận được cái chóp đầu rồi từ từ cái cảm nhận nó xuống dần đến cái trán, rồi cặp mắt, rồi cái lỗ tai, mũi, miệng, cổ họng, và tới cái ngực thì cảm giác thấy rằng ngực vẫn đứng im và một điểm nóng ở ngay trái tim. Điểm nóng này loang dần ra và đệ mới thấy được hơi thở từ xa xăm nó đến từ từ và mạnh dần lên. Và đệ tỉnh hẳn. Nhìn đồng hồ thì khoảng ba tiếng đồng hồ đã trôi qua.
Tư tưởng đầu tiên là:
-- Chuyện hơi thở là "Hạt Cát" mà cứ tưởng là nó là "con voi"
Ngồi kiết già như vậy đã lâu nhưng cái cảm giác chưa xong vẫn còn. Cảm giác là đi đúng hướng vẫn còn. Sau đó đệ lại lật lại cuốn sách độc nhất là Đức phật và Phật Pháp của Narada... đến đoạn La Hầu La nhận pháp của Đức Phật là nên quán: thân hình này không phải của ta, linh hồn kia không phải của ta, và tư tưởng nọ cũng không phải của ta. Thì đệ hiểu rằng vừa rồi đệ chỉ mới xong cái phần Minh Sát Tuệ. Còn Giải Thoát thì... chưa được.
Sau khi dùng niệm Thanh Tịnh ở trạng thái Tứ Thiền Hữu Sắc: đệ đọc lại cuốn Đức Phật và Phật Pháp ngay cái đoạn Đức Phật dặn La Hầu La là nên quán: Thân này không phải là ta, Linh hồn nọ không phải là ta, Tư Tưởng kia không phải là ta. Thì đệ hiểu rằng đệ đã vô tình làm xong cái Minh Sát Tuệ.
Cảm giác không thể biết rằng thể xác của chính mình là mình nó rất là thật và cũng rất là lạ. Là vì hễ đem cái gì mà cho vào khung hình (màn tivi) đó là cái thấy nó biết liền. Nhưng đằng này, nó lại không nhận ra và chỉ thấy quen quen, ngu ngu. Và nhất là cái cảm giác: Tui chưa sinh ra ở đó một lần nào! Khi thấy nguyên cả Trái Đất. Trong khi đó, những hình ảnh, cuốn phim về các tiền kiếp, lại xuất hiện một cách rõ ràng qua những lần... sưu tra nhân quả của nhau trong đám lu bu. Chỉ có thể giải thích bằng cách so sánh vào tình trạng "Thanh Tịnh" khi dùng màn ti vi mà thôi.
1. Nếu sự thanh tịnh nó rất là mạnh thì hiện tượng ngợp thở xuất hiện: lúc này nó thấy đúng nhất (vì tất cả những cái gì không thanh tịnh thì cái thấy đều không nhận ra mà chỉ thấy quen quen). Còn nếu chỉ là thanh tịnh sơ sơ thì nó lại thấy rõ những nhân duyên, những nghiệp quả trong thế giới hiện tượng.
Suy diễn như vậy xong thì bước kế tiếp là đệ vào đó lại một lần nữa và dùng ba pháp ấn là Khổ, Vô Thường, Vô Ngã để... định nghĩa cái hình ảnh của anh chàng quen quen và ngu ngu đó. Khung hình biến mất và hiện tượng trong sáng, bóng láng, im lặng xuất hiện. Cái cảm giác "mình ở tất cả mọi nơi" trong lần ngộ đạo lại trở về một cách mạnh mẽ hơn và lâu hơn. Khi hướng về một... địa chỉ như là người vợ của đệ thì... đệ là người đó: có nghĩa là đệ có thân thể của người đàn bà và đệ còn biết được những sự xung khắc nội tâm của nàng này qua các đường sức nó chạy xoắn ốc và ngược chiều với nhau. Khi hướng về một anh bạn thì đệ lại có thể xác của một đàn ông, với tất cả các sự đối kháng nội tâm của ông bạn đó, nhưng nhẹ hơn là của vợ đệ. Khi hướng về một cái cây (cây ổi sau hè) thì... đệ lại là cái cây với cái chóp cây là... cái đầu và những cành cây là tay, thân cây là thân hình của đệ, hệ thống rễ là chân của đệ. Đệ biết rõ chỗ nào nó bị mục, nó bị khô, nó bị gãy... và sức sống của nó qua các rung động của các đường sức chạy một chiều từ dưới lên trên và rất là yếu. Khi hướng về cái nhà thờ Domaine de Marie thì đệ lại là những vách tường, và nền móng: chỗ nào nó yếu, nó nứt, nó mục: đệ đều biết. Sau khi hướng về bốn cái đặc tính của thế giới hiện tượng (giống cái, giống đực, thực vật và khoáng vật) thì nó lại trở về cái tình trạng "ở khắp mọi nơi". Cứ mỗi lần vào với công thức trên thì đệ có cảm giác là tình trạng "ở khắp mọi nơi" nó càng mạnh và càng hiện hữu một cách rõ nét hơn khi ra khỏi tình trạng trên và sinh hoạt bình thường trong đời sống hằng ngày.
Đệ lập đi lập lại được cả thảy bốn lần và sau đó phát nguyện học phương tiện độ để thành một Bồ Tát bậc tám cư ngụ tại cung trời Tiểu Quang Thiên (Nhị Thiền). Tại đây, đệ lại không có thần thông nào cả mà chỉ còn cái linh tính. Tất nhiên nếu có việc thì đệ lại leo vào Tứ Thiền để tìm cách giải quyết.
Mến.
Kinh nghiệm bản thân của đệ khi vào đến đây (Tứ Thiền) và đem so sánh khi đệ vào Diệt Thọ Tưởng Định thì: Ở Tứ Thiền, hơi thở đã ngưng. Nhưng vẫn còn sự trao đổi oxy cho dù rằng rất là ít... nhưng nó vẫn còn. Cái này ông bà của mình gọi là “Hơi Thở Nội Tức” đó. Đến khi vào Diệt Thọ Tưởng Định thì hơi thở hoàn toàn ngưng. Không còn sự trao đổi gì nữa cả. Ở cái tình trạng này thì quả là: Không còn Thọ, không còn Tưởng, không còn luôn cả cái Định: Đó là cái chết lâm sàng (nói theo danh từ y khoa) Theo ý đệ, trong chiến dịch truy quét và hủy diệt cái Bản Ngã mà chưa đề cập đến cái hơi thở thì quả là còn thiếu sót. Suy cho cùng: Hơi thở chính là sào huyệt cuối cùng của Bản Ngã. Và tất nhiên, một khi đã vượt qua được nó rồi (hơi thở) thì... không còn bất cứ cái gì còn được gọi là quan trọng nữa hết.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Tu Mật Tông Phật Giáo theo Thầy Hai Lúa Hoa Sen Trên Đá   Tue Feb 07, 2012 5:26 am

"Giáo Lý của tui không phải là để đến
mà Tin theo, mà là để Thực hành"
Đức Thế Tôn

Quán Vô Thường

1. Tập trung tư tưởng để tạo ra một cảnh Vô Thường: Nấm Mồ. Khi cái linh ảnh này xuất hiện như thật ngay đằng trước mặt thì tiếp tục quán cái sự thật phũ phàng rằng: mình cũng sẽ lò mò vào đó, kế đó là vì mình đã lò mò vào đó rồi thì hãng xưởng, xí nghiệp, cơ nghiệp, người tình, con cái, của cải cũng đều về đó.
Tác dụng: Làm được cái linh ảnh đó rồi thì tâm lý hành giả sẽ trở nên dửng dưng trước những hiện tượng có ảnh hưởng đến mình trong đời sống hàng ngày. Sau khi có cái tính cách dửng dưng này rồi thì đợi đến lúc cái cảm giác này nó chín mùi qua ba giai đoạn: Tẩm ướt, tràn đầy và sung mãn. Khi cái tâm lý này trở nên sung mãn thì trong lúc công phu thì cái nấm mồ nó... Morph (biến dạng) ra thành cái... nãi chuối... (ý lộn) cái hoa sen màu vàng với năm cánh hẳn hoi.
Tịnh Độ: Với cái Hoa Sen năm cánh đó trong linh ảnh thì động tác kế tiếp là Niệm danh hiệu Ngài: Nam Mô A Di Đà Phật.
Hay muốn cho nó tây hơn thì dùng câu chân ngôn:
Om, Amitabha Hrih Svaha.
Thì lọt vào Tây Phương Tịnh Độ liền. Mời các Bạn tu thử coi mình có vào được không.
Mến.
TB: Còn một cách thứ hai nữa. Khi nào rảnh thì lại viết tiếp cho bà con tập thử coi ra sao.
Quán Xác Chết
Chuyện này rated R, trò chơi này chỉ là dân thứ dữ mới chịu nổi. Trong Mật Tông, có vị Thần Kim Cang đang làm tình với một Kim Cang nữ.
Không biết bao nhiêu người tưởng bở cứ nhào vô làm đại, cho mình là chì, là gồ để rồi: Tối tối, Thầy tìm đệ tử ... nghiên cứu. Chuyện này nhan nhản.
Khi gặp người khác phái thì đừng có nhìn
Lỡ nhìn thì đừng có nói,
Lỡ nói thì phải dùng chánh niệm :-). :-). :-).
Chánh niệm này cũng tùy vào đối tượng:
Dê xồm như Hai Lúa thì đệ lo thủ cẳng công thức quán xác chết cho chắc ăn.
Hảo ngọt (khóai những đứa trẻ mới lớn như ... Phật Thích Ca) thì chỉ còn cách không được làm biếng để chống lại mười Đạo quân Ma.
Còn một cách nữa là ngay từ lúc đầu: cứ coi người khác phái đó là ... người trong nhà thì cụt hứng liền.
Cái nguy hiểm của cách quán Vô Thường trong trường hợp này là khi mình thấy một người ... quá đẹp thì mình lại quên không thấy cái Vô Thường nơi đối tượng đó. Do vậy, cách quán Vô Thường lại ít ép phê.
Quán từ bi là cái khốn nạn và ... khó nhất:-)
Công việc mà nói ra thì rất là dễ nhưng làm cho được thì trần ai chi chí :-).
1. Nhắm mắt (100%)
2. Hình dung cho ra cái khuôn mặt dễ thương của cô bé hàng xóm, người mà mình yêu thích và ưa làm đẹp lòng nhất :-). Điều này rất là dễ…Kế đó
3. Hình dung ra khuôn mặt Sadden Hussen, người mà mình thù và ghét nhất (chẳng hạn). Sau khi hình ảnh này xuất hiện thật là rõ đằng trước mặt mình (điều này cũng rất là dễ, nếu mình thù ghét họ đủ ... đô) thì ...
4. Hình dung luôn cả hai cái hình ở phần 2. và 3.. Hai khuôn mặt này phải ngang nhau và rõ như nhau!!!
Trần ai chi chí là ở chỗ này đây :-). Cái tâm của mình nó không có chịu làm cái chuyện này:-).
Phải có một cuộc sống đầy đủ đức độ thì mới làm được, còn không thì chỉ còn nước ngồi ... nhắm mắt và nghĩ chuyện đời mà thôi.
5. Sau đó là nguyện của tâm từ bi.
Sư Huynh nào rảnh thì làm thử coi thì biết liền :-).
Theo chỗ đã tới của đệ thì Mật Tông có một Ngài tên là Tỳ Lô Giá Na.
Và cũng ngay cái chỗ đọc kinh Vạn Phật thì Ngài đầu tiên lại có tên là ... Đấu Chiến Thắng Phật.
Rồi từ đó đệ có tò mò đi tìm Ngài Đấu Chiến Thắng Phật này ra làm sao, Và cũng biết rằng Ngài cầm gậy Cô Lâu (Đầu Lâu) và có hỏi Ngài làm cách nào để thành Phật thì Ngài có nói lại là: Tui chỉ có giỏi một pháp là: Quán Vô Thường mà thành Phật.
Tất nhiên là: Không có một Đức Phật nào dùng phương tiện ...đọc sách để tăng kiến thức cả :-). Mà chỉ dùng chánh định để tìm hiểu vấn đề mà thôi.
Và cũng không có một Đức Phật nào lại bắt chước vị nào khác cả:-). mà các Ngài đều có một dấu hiệu để nhận nhau mà thôi, đó là câu:
- - Tui không có một ai làm Thầy tui cả
Quán Từ Bi Hỷ Xả (Tứ Vô Lượng Tâm)
Trình độ tứ thiền hữu sắc.
Đầu tiên quán hình một kẻ thù và sau đó là quán một cái hình của người mình yêu thích. Bước kế tiếp là quán cho cả hai cái hình đó xuất hiện như thật ngay đằng trước mặt của mình.
Sau khi các pháp đã bình đẳng, có nghiã là: Cả hai cái hình đã có thể xuất hiện ra được một cách điều hoà và dễ dàng rồi thì lúc đó mới phát tâm Từ Bi Hỷ Xả về một đối tượng nào đó. Ngắm nhìn đối tượng đó thay đổi ra làm sao.
Kế tiếp là phóng Tứ Vô Lượng Tâm về hai đối tượng,phóng xong rồi thì ngắm nhìn coi tác động của nó như thế nào qua những biến chuyển của đối tượng (như cây moc tốt hơn, ra hoa to hơn, tr'ai ăn ngọt hơn ...)
Hay ( người ghét mình bỗng nhiên hỏi thăm và tỏ vẻ ra thân mật hơn ...)
Kế tiếp nữa là phóng tâm cho ba đối tượng, rồi quan sát coi các đối tượng đó bị tác động ra làm sao?
Sau đó là một nhóm đối tượng .... và cứ thế mà phóng tâm cho càng lúc càng nhiều đối tượng... cho tới khi nào mà mình đụng trần thì phải cứ cố gắng hoài và miệt mài với công việc phóng tâm này
Quán Thân Bất Tịnh
Lâu quá lại có dịp trình bày lại cho Huynh nghe cái chuyện lòng vòng này: Tham Dục.
Đệ vốn là một người rất là sung sức nên cái chuyện ấy thì quả là một ... cái núi ... riêng cho đệ.
Sách nói rằng: để đối trị cái chuyện trên thì nên quán "Thân Bất Tịnh".
Đây là dùng chiêu Triệt Quyền Đạo của Lý Tiểu Long có nghiã là theo môn võ này thì phe ta sẽ tấn công và hạ đối thủ, trước khi đối thủ có đủ thời giờ để xuất chiêu tấn công mình.
Cũng vậy, ở đây tâm thức sẽ giải quyết ngay từ trong trứng nước tình trạng tham dục kỳ quái trên :-). Bằng cách tạo thành một thói quen suy nghĩ khác về phái đẹp (hay phái xấu cũng được :-).
Thực hành:
1. Lựa đối tượng:
a) Lúc mới bắt đầu, thì Huynh đừng có nên lấy đối tượng là một mái tóc dài xinh như mộng :-).
Mà nên khởi đầu bằng hình ảnh của một bà cụ cở 80 lưng còng, má hóp, da nhăn ...
b) Rồi khi Huynh đi đưa đám ai đó thì Huynh ghi nhớ cái cảnh chôn cất thảm não đó.
c) Sau cùng là Huynh ghi nhớ cái hình ngôi mộ đầy hoa và lạnh lẽo.
Sau khi có đủ ba (3) phần (a,b,c) rồi thì Huynh bước qua phần thực hành:
2. Thực hành:
a) Được ba mẩu phim đó rồi thì Huynh về nhà nằm ngữa (cho nó khoẻ) và ráp nối lại cho nó thành một cuốn phim như thật trong trí tưởng tượng của Huynh.
Có nghiã là: Cho bà cụ 80 đứng đâu đó rồi hình ảnh bà cụ nhoà dần để rồi hiện ra cảnh đưa đám rồi kế đó là cái hình của cái ngôi mộ hiện rõ lên và đè lên tất cả... và sau cùng là chỉ còn có ngôi mộ.
Nếu Huynh tự đạo diển và chiếu được cuốn phim này trong trí tưởng tượng của Huynh thì Huynh đã thực hiện được cái chử **Quán ** thường nói đến trong sách thiền rồi đó.Huynh sẽ thấy rằng cái chuyện ấy cũng theo đó mà tiêu ma hồi nào không hay.Nếu chưa được thì tự chiếu phim này thêm vài lần nữa.
Rồi thay vì bà gìa thì thay vào đó một mái tóc dài với sắc đẹp bình thường.
Giải thích:
Sở dĩ phải dùng bà già trước vì cái tâm của mình nó ... cho bà già chết một cách dễ dàng hơn. Nếu không ép phê thì cho một sắc đẹp trung bình vào (một cô bé ó đâm nào đó cũng được).
Theo kinh nghiệm dụ khị của đệ thì đến đây trong cái đám lu bu đã nhẹ người hết 99% rồi (Đám lu bu gồm khoảng 50 gia đình (vào năm 1991) :-). :-). :-).
b) Cách này thì phớt lờ nó đi :-). vì ... điều kiện để phá tham dục không có.
Cũng theo sách vở thì không thể nào có cái chuyện hết tham dục trong điều kiện tâm lý như ngay bây giờ.
Vì điều kiện ắt có và đủ để hết cái chuyện *Tham Dục* này là vô cho được **Sơ_Thiền**
Vì cũng theo sách vở thì khi nhập Sơ Thiền những chuyện này lại xảy ra:
1. Tầm
2. Tứ
3. Hỷ
4. Lạc và Nhất Tâm
Nhưng theo trong sách thì có nói đến câu *Ly Tham Dục thì chứng Sơ Thiền*.
"Giáo Lý của tui không phải là để đến
mà Tin theo, mà là để Thực hành"
Đức Thế Tôn

Đàn pháp QUÁN THẾ ÂM
1. Nhập vô TỨ THIỀN (nhờ vô đề mục), quán HỘT CHÂU MẪU, vừa đọc trong tâm NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT. Khi hột châu mẫu xuất hiện rõ nét, đặt câu hỏi: Tại sao phải làm vậy? Liền thấy một cảnh khổ, rối ta nguyện xin xó ĐỨC Q-T-Â xuất hiện để cứu khổ: Q-T-Â xuất hiện và rưới nước cam lồ cho họ.
2. Quán một màn tivi, và đọc NAM MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT. Thấy Ổng xuất hiện, giữ càng lâu càng tốt ! Nhớ thử Ổng rồi mới xài. ĐỪNG BAO GIỜ QUÊN!
Phương pháp thử một linh ảnh coi có thiệt không:
a. Giữ linh ảnh cho lâu
b. Tâm đọc: tất cả các chúng hữu tình không có phận sự hãy lui ra.
c. Đọc chậm rải ba (3) lần, lần cuối thêm: (không thôi bị tổn thương!).
d. Nếu linh ảnh không biến: Quán ẤN HỘ THÂN bay vô NGỰC linh ảnh.
e. Nếu linh ảnh PHÁT QUANG: Đúng là thứ thiệt! Xài được!
f. Nếu nó CHÁY hay tiêu ra NƯỚC: là thứ dỏm. Không xài và không sao hết.
3. Đang lúc tu sĩ giữ linh ảnh: Ổng xuất hiện như thật trước mặt mình: TÂM GIỚI HẠN, NĂNG LỰC GIỚI HẠN.
4. Ở đây, có thể GIẢI OAN cho cả gia đình tu sĩ: bằng cách quán một vài người trong gia đình cùng cầu nguyện với mình trong đàn pháp vào BAN ĐÊM.
5. Thắc mắc cái ĐẢNH bằng thịt hay xương: giữ Ổng lại, Ổng trùm vô mình: lấy TAY rờ thử: TIẾP XÚC VỚI TẤT CẢ Ý TƯỞNG TỐT, VÀ KINH NGHIỆM ĐỘ SANH.
6. Làm một vài việc nhỏ mang tính cách TỪ BI…
7. Hỏi xem câu chú của Ổng là gì: Ổng sẽ thần giao cách cảm với mình về CÁCH ĐỌC THẦN CHÚ, nhớ LẠI cho kỹ và nói lại cho anh em khi cần.
8. Thắc mắc LƯNG Ổng để làm gì? Và ra sau lưng Ổng coi: Hình ảnh đó để độ tử. Đi độ tử, rồi về hỏi Ổng (ở hình ảnh đó): thần chú của Ông lúc này, đọc làm sao?
9. Tương tự như vậy đi hết 6 mặt (trái: TỪ, phải: BI, dưới: HỶ, trên: XẢ).
10. Quán coi hiện giờ AI đang HỘ TRÌ mình? Hỏi họ có cần làm người không? Nếu họ cần: Nhờ họ làm một công việc thiện nhỏ, RỒI ĐỘ HỌ QUA TỊNH ĐỘ. Lúc này HỘ PHÁP VI-ĐÀ mới xuất hiện! (cao khoảng 3 mét).
11. Sau đó làm một vài việc về TỪ, BI, HỶ, XẢ: độ tử, độ sinh (chữa bịnh).
12. Nguyện xin Ổng thể hiện ĐẠI NGUYỆN? Ổng liền xuất hiện trong TAM-THIÊN-ĐẠI-THIÊN-THẾ-GIỚI: TÂM VÔ LƯỢNG, NĂNG LỰC VÔ LƯỢNG. (đàn pháp gốc).
13. Độ liên tục, phân thân lung tung, thuyết pháp trong ĐÀN PHÁP GỐC trên.
14. Nguyện xin Ổng biểu hiện ở PHƯƠNG TIỆN VÔ LƯỢNG: Ổng xuất hiện ở dạng THIÊN-THỦ-THIÊN-NHÃN. (Hình ảnh này không có 6 mặt).
15. Chư vị quỷ thần đến hộ trì mình (tay họ đã cầm chày KIM CANG), họ cao khoảng 10 mét. Thực hiện lại điều (10).
16. Đem THIÊN-THỦ-THIÊN-NHÃN qua đàn pháp gốc (12): Nguyện xin ngài phát Đại Nguyện. TÂM VÔ LƯỢNG + NĂNG LỰC VÔ LƯỢNG + PHƯƠNG TIỆN VÔ LƯỢNG.
17. Dựa vô uy đức của Ổng, nguyện xin cho tu sĩ đi BẤT CỨ nơi nào: SẮC CỨU CÁNH (để học hỏi thêm vài đàn pháp nữa), THẬP PHƯƠNG TỊNH ĐỘ, qua đó xong rồi xin PHẬT ẤN CHỨNG, đi gặp CÁC TỔ: (Ca-diếp, Long Thọ, Milarepa, Babaji…).
18. Lúc này HỘ-PHÁP KIM CANG MẬT TÍCH mới xuất hiện cao khoảng 16 mét. Để phân biệt HỘ PHÁP KIM CANG với chư QUỶ THẦN, tu sĩ căn cứ vô CẶP MẮT của họ:
• Hộ pháp kim cang có cặp MẮT LỒI, tròng đen có VÒNG XOÁY. Khi mở miệng lại PHUN RA LỬA NGỌN. Tay cầm chày KIM CANG màu VÀNG, SÁNG CHÓI.
• Chư quỷ thần có cặp MẮT PHƯỢNG, xếch, không lồi. Khi mở miệng không có lửa.Tu sĩ sẽ tiếp thông được với ĐẠI NHẬT QUANG NHƯ LAI và với TỲ LÔ GIÁ NA, còn phần trước, tu sĩ chỉ mới tiếp xúc được với chư vị BỒ TÁT (để ý đến đảnh của mình là biết liền).
* JNÃNA – PARAMITA *
* Viết xong ngày 28 tháng 6 năm 1991 lúc 12 giờ 10 phút *
Đàn Pháp Om Mani Padme Hùm
Đàn Pháp Văn Thù Sư Lợi - Om Driym
Nhập Tứ Thiền, quán mạn đà la Văn Thù Sư Lợi (hình cô bé trẻ ngồi trên kỳ lân màu xanh da trời, với bàn tay phải có ngón tay út chỉ Hư Không, và bàn tay trái giấu dưới áo).
Khi mình có cái hình Nhất Tự Chú Vương thì mình dùng màn tivi ... chụp hình cái hình đó bằng cách cho vào màn tivi và từ đó đặt câu hỏi thì Ngài trả lời, hay là chỉ giữ Ngài cho lâu thì Ngài sẽ xoa đầu thọ ký, sau đó là mình làm việc về cái Trí Tuệ của Ngài (Chỉ cho người khác tu bằng phương pháp tròn đầy: Kiếp này là xong nếu người đó hội đủ điều kiện, còn chưa xong, vì thiếu điều kiện, thì về Tịnh độ mà dợt cho xong)! Cho nên nếu tính bằng kiếp người thì toàn là dân ... Bất Lai không mà thôi :-)
Là vì, kiếp này là ... kiếp Vô Minh cuối cùng!
Đàn Pháp Phật Mẫu Chuẩn Đề
Quán các mẫu tự của câu chú: Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Taba Ha.
Mạn đà la này có hai phần:

Phần thứ nhất là phần mọc tay (y như cái hình vậy) Những cánh tay này dựa trên căn bản của tỉnh điện được tạo ra từ luồn kundalini.
Hình ảnh được thể hiện nguyên một cái hình Phật Mẫu Chuẩn Đề với 18 tay đầy đủ binh khí và thêm hai con rồng đội cái hoa sen. Chưa hết, trên hào quang lại có câu chú bằng tiếng Phạn, Án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Câu chú đi đúng cái phần không gian của hào quang của Ngài khởi sự từ vai phải và chấm dứt ngay bon vào vai trái của Ngài.
Phần thứ nhì là dùng cách quán tưởng "hai chiều xoay" của các chử trong vòng phép Chuẩn Đề. Không có kinh nghiệm về kundalini thì sẽ không được, khi hành giả khai mở đến chổ này.

1. Nó đòi hỏi một ý chí sắt đá, mà ý chí này chỉ có, khi hành giả đã thành thục về sự khai mở kundalini. Chớ không phải loại ý chí sơ sơ qua những buổi thức khuya trồng cây si ở dưới mưa, hay là cái ý chí của những đêm thức khuya để gạo bài thi ...

Mở ngoặc
Phần này bàn về ***Ý Chí ***: Có thể gọi y ùchi và ví nó như là chữ ***l-ò*** trong cụm từ: Lò nguyên tử vậy:

Lò này chỉ có thể chạy với nhiên liệu đặc biệt dành riêng cho nó mà thôi, tuy cũng gọi đó là cái ***l-ò*** nhưng cái lò này không thể chạy bằng ... cũi được :-). Đóng ngoặc

2. Nó khó làm y như là khi, cùng một lúc dùng cả hai tay để mà vẽ những hình như sau: Trong khi tay trái đang vẽ vòng tròn thì tay phải đồng thời vẽ một hình vuông.

Giới thiệu vòng phép:

Trong vòng phép Chuẩn Đề thì Các Bạn sẽ thấy có một hình toàn bằng chữ không mà thôi. Hình này gồm hai vòng tròn đồng tâm với nhau:

Vòng thứ nhất, ở bên trong, chỉ có một chử độc nhất là chử Om (hay là Aum)

Vòng thứ hai ở bên ngoài (trên cái vành khuyên được tạo bởi hai vòng tròn đồng tâm) gồm tám chử của câu thần chú đó là: Chiết; Lệ; Chủ; Lệ; Chuẩn; Đề; Taba; và sau cùng là chữ Ha (Trong cuốn Kinh Chuẩn Đề Đà La Ni của Thích Viên Đức)

Thực hiện:

Hành giả quán cho ra cái hình này. Sau khi cái hình xuất hiện như thật đằng trước mặt của mình thì động tác kế tiếp là:
Quán phần Chữ OM cho thật đứng im, có nghiã là phần nằm trong cái hình thì đứng im, không nhúc nhích.

Kế tiếp thì quán tám chữ kia, tức là phần ngoài của cái hình.

Hành giả phải quán thế nào cho những chữ này :***quay trên chính nó*** theo chiều ***ngược với chiều kim đồng hồ*** và đồng thời, tám chữ này phải chạy theo cái vành khuyên (phần này được tạo bởi hai vòng tròn đồng tâm) ***theo chiều kim đồng hồ***. Làm được như vậy (có nghiã là cùng một lúc phóng ra ba (3) tư tưởng: Đứng im, Bên trái và Bên phải) thì sẽ được Phật Mẫu Chuẩn Đề xuất hiện và ấn chứng bằng hai cách:
1. Xoa đầu hành giả
2. Là chính Ngài sẽ vẽ lên thân thể của hành giả những chữ này qua những yếu huyệt hay trung tâm năng lực.
Làm không được thì sẽ bị hất văng ra khỏi vòng phép bằng sự tuột định bất ngờ. Tất nhiên là có thể bị bịnh.
Phật Mẫu Chuẩn Đề có cách quán kỳ lạ là: Các chữ tự xoay trên chính nó theo chiều: Ngược chiều kim đồng hồ. Đồng thời cả câu chú lại quay trên một vòng tròn thuận theo chiều kim đồng hồ. Tất nhiên, để làm nỗi chuyện này thì tâm tu sĩ phải vào một tình trạng *Không Chấp phải cũng không chấp trái* thì mới làm được. Mà như vậy chỉ có ông Phật thì mới chơi được mà thôi! Vì vậy mà các Tổ mới đặt tên là: Phật Mẫu Chuẩn Đề (Mẹ của Phật hay đúng ra pháp quán (vision) dễ nói, rất chi là khó làm này sẽ giúp mình thành Phật).
Đàn Pháp Ngũ Phật Trí
Pháp thân Tỳ Lô có thể chứng bằng cách nhập vào các Đàn Pháp. Con đường khá dài, nguy hiểm và đầy dẫy những kỹ thuật: Khi hành giả đổi cung cách tu hành và dùng hình ảnh các biểu tượng để đem áp dụng cái Không Trí vào Thế Sự thì có rất nhiều con đường. Đệ bị ảnh hưởng nặng nề những tiền kiếp nên đã quay lại và khai triển những đàn pháp theo một dạng rất là đặc biệt (dạng hình lập phương: y như cục Rubic vậy). Trình bày một trong những cách nhập vào Pháp Thân Tỳ Lô: Đàn Pháp QTA là bước đầu dễ dàng nhất và không có phản ứng phụ. Sau khi học hết sáu mặt (Từ, Bi, Hỷ, Xả, độ Sinh và độ Tử). Kế đó là thay đổi hệ hộ pháp và đi tìm cho mình một Kim Cang Vương. Tiếp là Qua Tây Phương Cực Lạc để gặp Ngài A Di Đà Phật.

Tiếp nữa là nhờ Ngài A Di Đà Phật giới thiệu cảnh Liên Hoa Tạng Thế Giới: cả ba người trong một cái duỗi tay của Ngài A Di Đà Phật, đã... cùng với Ngài A Di Đà Phật đi vào Pháp Giới Liên Hoa Tạng để gặp Ngài Tỳ Lô Giá Na trong cái núi Tu Di ở ngay giữa Liên Hoa Tạng, núi này cao hơn những núi kia một tý. Sau đó, là quy trình phá Chấp Kim Cang: Hành giả cùng với Kim Cang vương qua Liên Hoa Tạng và quăng chày Kim Cang vào đảnh của Ngài Tỳ Lô Giá Na. Kim Cang Vương không chịu và bỗng nhiên biến thành... Chấp Kim Cang. Vì Ngài mắc quai lời nguyện nên, Ngài đành phải miễn cưỡng qua đó để hộ trì mình.
Phải nói rằng tính phá chấp phải thật là mạnh thì mới dám làm chuyện này trước cảnh hào quang rực rỡ màu xanh của tia hồ quang của Ngài Tỳ Lô mà mình dám quăng chày Kim Cang vào ngay đảnh của Ngài Tỳ Lô. Ba Chày chạm nhau tạo thành âm thanh vốn là Tâm Chú của Ngài Tỳ Lô.

Và sau cùng là cả bốn người là (A Di Đà, QTA, Kim Cang Vương và đệ) trong cái duỗi tay của Phật A Di Đà mà qua đến Liên Hoa Tạng gặp Đức Tỳ Lô để quăng chày khi năm chày gặp nhau và đệ bay theo luôn thì cả năm đều bình đẳng và tan biến trong tiếng nổ Subham. Từ đây, không còn hình ảnh nào mà đệ phải quán tưởng nữa. Câu khái niệm: Phật trong ta, ta trong Phật đã được hoàn thành. Tâm lúc bây giờ rỗng lặng và sự thoả mãn tâm lý này đã dẫn đến trình trạng mà mình thường bàn tán đó là: Thường Lạc Ngã Tịnh.
So Sánh: Như vậy Diệt Thọ Tưởng Định là tình trạng thanh tịnh trong một cảnh nhỏ của Vũ Trụ Quan của Phật Giáo: Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới với chỉ một Trái Đất.
Chứng nhập Pháp Thân Tỳ Lô là một cảnh Thanh Tịnh đối trước Liên Hoa Tạng Thế Giới với hằng hà sa số Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cùng với hằng hà sa số Trái Đất
Mến.
TB: Sự so sánh một cách chính xác thì... đệ chịu vì dụng cụ hiện nay là Ngôn Ngữ. Cách thức là: hãy đến mà xem thì mới rõ được. Nhưng một cách tổng quát và rất là gượng ép thì có thể nói như sau: Cảnh thanh tịnh khi vào diệt thọ tưởng định này có thể ví như mình rất là bình tĩnh khi... cầu chì nhà bị đứt. Còn chứng nhập pháp thân Tỳ Lô Giá Na là mình vẫn bình tĩnh khi bị... động đất, trước cảnh nhà thì xụp, vợ con, bạn bè thì chết.... Cái thanh tịnh thứ nhì này nó đầm hơn vì mình đã có thể đem ra áp dụng nó vào chuyện thế gian.
(Phần Đọc thêm)
Phá chấp... Chấp Kim Cang:
Một hôm, đệ vào Liên Hoa Tạng và thấy rằng Ngài Tỳ Lô lại thành Hắc Bì Phật với tay phải cầm chày Kim Cang và tay trái cầm chuông Kim Cang, Hai tay lại bắt ấn A Xà Lê (cánh tay phải nằm bên ngoài và chéo với cánh tay trái ngay ngực Ngài). Vì thấy Ngài có vũ khí và đệ cũng sẵn cái chày nên đệ... nhắm ngay đầu của Ngài mà quăng liền. Trong chớp mắt một tiếng nổ kinh hồn *Brhum* chấn động cả pháp giới. Hai chày đã đụng nhau vào ngay điểm giữa của quỹ đạo. Có nghĩa là khi đệ quăng chày thì Ngài cũng quăng cái chày của Ngài ra và hai chày đụng nhau vào khoảng giữa của quỹ đạo, tạo thành tiếng nổ *Brhum*. Khi xuất định, đệ vẫn còn ù tai vì âm thanh quá lớn đó nhưng trong thâm tâm của đệ, đệ lại cảm thấy nó thiêu thiếu một cái gì đó. Đệ bèn nghĩ rằng, lần sau rủ Hộ Pháp Kim Cang qua bên đó với ý đồ là lập lại thí nghiệm trên: Hộ Pháp lắc đầu không chấp nhận. Tư Tưởng lại xẹt qua xẹt lại: Đây là một Chấp Kim Cang!!!

Đệ lại hiểu rằng: Kim Cang mà đã chấp thì phải có cái còn cứng hơn Kim Cang để phá cái chấp này!!! Nhưng cái nào lại có thể cứng hơn Kim Cương? À!... Dùng màn TV: Màn TV im lặng, không cho đáp số. Phải mất ba tháng sau, đệ mới tìm ra đáp số để phá... Chấp Kim Cang.
Đệ lại nói với Kim Cang một cách rõ ràng hơn: Không phải tui nhờ ông quăng một mình đâu, nhưng chính tui cũng quăng nữa, như vậy ông có đi không? Chấp Kim Cang lưỡng lự một hồi, nhìn đệ, hả miệng phun lửa ào ào, rồi quyết định:
- Vì tình bạn, ông làm thì... tui làm! Sống, cùng sống! Chết thì cùng chết!!!
Tư tưởng lại xẹt qua xẹt lại: Quả thật, kim cương cứng nhưng tình bạn còn cứng hơn nhiều. Thế là cả hai tên qua đó và khi tác ý quăng chày thì tự động... Hộ Pháp xuất hiện ở ngay đằng sau lưng của Ngài Tỳ Lô Giá Na (mà nay là Hắc Bì Phật) và cả ba cùng quăng chày: Đệ nhận thấy rằng: Chày của đệ bay cong lên cao tạo thành một phần tư vòng tròn (1/4 vòng tròn). Chày của Hộ Pháp cũng vậy. Và chày của Ngài lại bay thẳng góc lên cao... Và ba chày đụng nhau tạo thành âm thanh *Vãm* còn to hơn cả *Brhum* trước đây.
Nhận xét:
Nếu có thể vẽ lại những quỹ đạo của ba cái chày trên thì đệ và Hộ Pháp lại ở trên một Đường Kính và Ngài Hắc Bì
Phật lại là trung tâm. Quỹ đạo 2 cái chày của đệ và của Hộ Pháp tạo thành 1/2 vòng tròn và tất nhiên quỹ đạo chày của Ngài Hắc Bì Phật là đường bán kính thẳng góc với đường kính nối liền đệ và Hộ Pháp. Âm thanh tuy rằng to như vậy nhưng vẫn không làm đệ xuất định. Chứng tỏ mức độ yên lặng của đệ lúc này nó khá hơn trước rất nhiều, và đệ chỉ có nói về âm thanh còn ánh sáng khi ba chày đụng lại thì nó sáng đến mức độ mà mình thấy nó... thành xanh như tia hồ quang, nhưng trạng thái định vẫn không bị lung lay gì cả. Khi xuất định thì đệ vẫn còn cái cảm giác là... đi đúng hướng rồi đó... nhưng... vẫn chưa xong...
Tất nhiên là lần sau, đệ sẽ mời cả bốn người là A Di Đà Phật, Quan Thế Âm, đệ và Hộ Pháp cùng qua bên đó để lập lại thí nghiệm trên, nhưng lần này là với bốn người. Thế là cả bốn người qua tới Liên Hoa Tạng. Và khi quăng thì cả bốn người tự động vào vị trí tứ trụ và năm cái chày chạm nhau trên không trung tạo thành một âm thanh *SuBham* cùng với chấn động và ánh sánh chói chang... Tuy là quang cảnh nó kinh hồn như vậy nhưng tâm của đệ vẫn vững
vàng và không xuất định!!! Chứng tỏ cái sự yên lặng lúc này rất là mạnh. Khi xuất định, đệ lại vẫn còn cái cảm giác là... chưa xong. Nó còn lấn cấn một cái gì đó.
Lần này thì trong tiếng **SuBham** Kinh thiên động địa của năm cái chày hợp lại thì đệ tác ý nhắm ngay vùng chấn động và ánh sáng đó mà lao mình vào luôn, đệ chỉ thấy các Vị kia cũng làm như vậy luôn!!! và chung quanh toàn là ánh sáng trong suốt như được mặt gương đã được lau chùi. Và sau tiếng nổ *SuBham* thì đệ lại hiểu cái ý của Chơn Ngôn này là: "Nó là Như Vậy". Cùng một lúc, cái tư tưởng lại xuất hiện:
Năm Ông đã nhập một, Ngũ uẩn đã giai không, tâm thức đã phản bổn hoàn nguyên.
Và một sự tĩnh lặng vô cùng, ngay khi suy nghĩ về một vấn đề gì thì đệ có cảm giác như tư tưởng nó chạy rất là chậm. Đồng thời, tất cả các hiện tượng đều phản ảnh rất là trung thực và rõ ràng khi tâm thức rơi vào sự "im lặng sấm sét" như vậy. Và cái biết nó càng trở nên bén nhạy.
Sau đó khoảng một tháng thì các hình ảnh của màn TV lại càng có nhiều chi tiết hơn trước nữa. Cô Trang nói là hình ảnh có thể phân bố như là trong chương trình "Picture in picture" của TV vậy. Màn TV trở nên mềm dẻo, nhu nhuyễn và dễ sử dụng hơn nhiều... Câu chuyện đến đây... lại chưa hết vì khi lao vào vùng chấn động đó, đệ mới hiểu tại sao họ lại làm cái chày Kim Cang với hình thức lạ kỳ như vậy.
"Giáo Lý của tui không phải là để đến
mà Tin theo, mà là để Thực hành"
Đức Thế Tôn

1. AN TRÚ CHÁNH NIỆM ĐẰNG TRƯỚC MẶT
Chánh niệm là niệm về một niệm thế nào cho cái niệm đó không còn là niệm thì là chánh niệm hí hí. Ví dụ: A Di Dà Phật là một niệm. Nhưng khi niệm phóng mạnh cái niệm đó ra đằng trước mặt và đẩy nó ra càng xa càng tốt (cũng đằng trước mặt thôi). Nhờ vào cái niệm có đủ lực này mà mình có thể thành nhất tâm bất loạn được, mà nhất tâm bất loạn là cái sự tiêu hóa của Chánh Niệm vậy!
À! Ở đây thì niệm từng chữ một:
AAAaaa...
DIIIiiị…
ĐÀÀÀ ààà...
Phậậật...
Lại nữa: Trong câu Chú: ÔM, MaNi Padmê Hùm thì tụi mình lại có kỹ thuật Chánh niệm như sau để mau nhất tâm bất loạn. Đọc trong tâm và chia ra làm hai bè (giọng) mà hợp ca:
Bè 1: ÔÔÔôôômmmm
Bè 2: Ma Ni Pad Mê Hùm
Rồi áp dụng kỹ thuật đẩy mạnh ra đằng trước mặt như cách thức trên... Chúc các Bạn mau đạt được cái nhất tâm bất loạn.
Thân ái chào các Bạn
2. NIỆM PHẬT - CÔNG PHU HẰNG NGÀY
Niệm làm sao cho thấy cảnh luôn, vì thấy cảnh nên cái niệm này rõ ràng là mạnh hơn (to hơn) những cái vọng niệm của mình thường ngày, phần này làm cho tất cả các tạp niệm biến mất. Tạp niệm rơi rụng (nêm đầu tiên bị văng ra ngoài) vì có cảnh nên nó nhất tâm, vì tình trạng nhất tâm nên không mỏi mệt y như mình đang coi xinê phim hay vậy:
Mình có thể ngồi 4 giờ liền hả miệng mà dòm vào cái màn ảnh.
Nếu không có gì thì ai có thể ngồi hả miệng mà coi cái màn ảnh trắng bệch đó? Hoạ chăng chỉ là *Thiền Đăng*).
Để lấy cái niệm này ra thì có nhiều cách: Cách đơn giản nhất và hữu hiệu nhất là khi mình thấy Pháp Thân ông Phật thì để ổng lo, mình khỏi lo!
Trên là trong cái Pháp Niệm Phật không pha trộn.
3. NIỆM PHẬT RẢI TÂM TỪ - QUÁN CHẤM ĐỎ
Niệm Phật để rải cái Tâm Từ - Niệm Phật Quán Chấm Đỏ
a. Tư thế:
Hành giả nhắm mắt 100%.
Trong khi nhắm mắt lại như vậy thì lại nhìn vào một điểm. Điểm này nằm ngang với tầm nhìn và khoảng cách bằng một với tay của mình.
b. Cách niệm:
Niệm với một giọng cao nhất bằng cái tâm, có nghiã là niệm trong cái đầu, và tất nhiên là không cho phát ra thành tiếng. Cách niệm này dân Mật Tông gọi là Kim Cang Trì. Niệm từng chữ một và kéo dài ra như sau:
AAAaaaa ...
Diiiiiiiiiii......
Đààààà.....
Phậậâ.tttttt.
c. Khi niệm, mắt chăm chăm nhìn vào một điểm ngay đằng trước mặt và ngang với tầm nhìn của chính mình. Đệ nói chăm chăm có nghiã là nhìn cố định vào một điểm, không nhìn về bên phải hay nhìn về phía trái. Có nghiã là không cho cái nhìn của mình nó chạy qua, chạy lại mà chỉ nhìn có vào một điểm duy nhất mà thôi
d. Tưởng tượng cái điểm đó thành ra một cục màu đỏ y như đóm nhang (hay to bằng cái đèn LED của máy vi tính).
Kỹ Thuật:

Nói là nói như vậy! Nhưng trong thực tế, khi hành giả nhìn chăm chăm vào một điểm thì vào những lần đầu tiên, cái điểm màu đỏ đó nó không chịu nằm yên. Mà nó cứ chạy đi chỗ khác. Kinh nghiệm của đệ là khi nó chạy đi xa cở 5 cm (2") thì hành giả nên bỏ nó đi và dùng tâm lực của mình mà tạo ra một cục màu đỏ khác ở vào ngay cái vị trí cũ. Chớ đừng có tốn sức mà kéo cái cục màu đỏ đó lại về vị trí cũ của nó.
Làm đúng bốn động tác trên, thì hành giả rơi vào cái tâm lực của Ngài A Di Đà Phật. Tại sao ? Vì ở cõi Tây Phương Cực Lạc: Chính Ngài A Di Đà Phật cũng lại phóng cái câu niệm này bằng cái đãnh màu đỏ của Ngài. Câu niệm này, theo cái tâm lực của Ngài, đi xuyên vào các cõi uế độ và lại quay trở về lại chính nơi cái đãnh của Ngài tạo thành một luồng tâm lực cứu độ, cứ xoay vòng như vậy.

Mặt khác, khi nhìn chăm chăm vào một điểm ở ngay đằng trước mặt và đồng thời phóng mạnh cái niệm vào cái điểm màu đỏ đó thì hành giả "rất dễ quên mình" khi niệm Phật. Do tình trạng "quên mình này" mà hành giả rất là dễ rơi vào tình trạng "Nhất Tâm Bất Loạn". Mà đã "Nhất Tâm Bất Loạn" thì cảm giác đầu tiên là tình trạng An Lạc liền xảy ra. Càng An Lạc thì chấm đỏ lại càng hiện ra càng rõ ràng hơn nữa! Cho đến khi cái chấm đỏ lại phát ra hào quang thì phải hiểu rằng hành giả đã gần như đi được nữa đoạn đường rồi!

Đến giai đoạn này thì sự An Lạc "gần như" hiện tiền. Đem cái An Lạc này mà hồi hướng cho ai đó thì ... Nếu "Không phải là Từ thì nó cũng là Bi" và ngược lại.
TB: Khi hồi hướng cho ai đó thì nên hồi hướng 100%, đừng có giữ lại cái gì cho mình hết. Làm như vậy thì cái tâm của mình nó ... đồng dạng với cái tâm của Ngài A Di Đà Phật.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Tu Mật Tông Phật Giáo theo Thầy Hai Lúa Hoa Sen Trên Đá   Tue Feb 07, 2012 5:27 am

4. NIỆM PHẬT - KỸ THUẬT VÀ NIỆM LỰC
Niệm Phật mà không có lực thì không thành công được.
Ví dụ sau đây sẽ làm rõ câu trên, tụi mình thử quan sát hai cách ném giấy của hai người sau đây:
1. Một lực sĩ cầm một tờ giấy lịch để nguyên như vậy và ném . Cho dù ông ta ném mạnh đến đâu đi nữa, ông cũng không thể ném xa được.
2. Một em bé lấy một cục đá và gói trong miếng giấy đó và ném thì khỏi cần nói: em bé có thể ném xa hơn lực sĩ kia mà không cần dùng sức nhiều cho lắm.
Lực sĩ và tờ lịch để nguyên là hình ảnh của một người đang niệm Phật mà không có lực.
Như vậy hình ảnh thứ hai là hình ảnh của người niệm Phật mà có lực.
Như vậy muốn niệm Phật cho được việc thì nên ... gói cái gì trong câu niệm đó? “Niềm tin”:
Vì tin rằng có một thế giới là Cực Lạc nên người niệm Phật chỉ mượn tạm cuộc đời này để sống tạm qua ngày qua bữa và mong về Tây Phương Cực Lạc để tu tập tiếp.
Như vậy, vì cách sống tạm này mà họ không màng đến những chuyện có thể kích động họ, họ sống ... như cái bóng giữa cuộc đời.
Kỹ Thuật:
Bước đầu tiên: Nhìn vào đâu để niệm Phật:
Khi niệm thì nên nhắm mắt và nhìn về một điểm duy nhất. Điểm duy nhất này lại ngang với tầm nhìn của mình.
Diễn tiến như sau: Đầu tiên, khi nhắm mắt lại thì cái thấy lại thấy nguyên một vùng không gian đằng trước mặt. Khi đã thấy được vùng không gian này rồi thì hướng tầm nhìn vào một điểm ngay khoảng giữa của vùng không gian đó.
Niệm như thế nào?
Cứ nhìn vào điểm trên và niệm hướng về cái điểm đó.
Niệm từng chữ một:
AAAaaaa
Diiiiiii
Đààààà
Phậậậậttt
Thở như thế nào?
Cứ thở tự nhiên hay một chữ một hơi thở cũng được, miễn sao thấy thoải mái là được.
Bước thứ hai là:
Sau khi niệm một thời gian cho thuần rồi thì tưởng tượng ngay cái điểm mà mình thường nhìn hằng ngày khi niệm Phật đó nó biến thành một đốm màu đỏ như đốm cây nhan.
Duy trì câu niệm và cái điểm đỏ đó càng lâu càng tốt.
Bước thứ ba:
Cái điểm đỏ bỗng dưng càng rõ và càng xa cái tầm nhìn. Câu niệm có vẻ có chiều sâu.
Bước thứ tư:
Khi cái điểm đỏ đó xa nhất và câu niệm gần như là tự động niệm thì lúc này đọc câu chià khóa để vào cõi Cực Lạc:
Câu đầu tiên là: Tứ Đại Nguyện
Câu thứ hai là: Nguyện xin thể hiện
Nhắm mắt nhìn vào một vùng không gian đằng trước mặt là ... tập trung tư tưởng, cái tầm nhìn này nó gần.
Sau khi thấy được vùng không gian này rồi thì lần này mình nhìn vào một vùng nhỏ hơn, rồi sau đó thì có thể gom tầm nhìn vào một điểm. Đến đây mình sẽ thấy cái tầm nhìn nó có vẻ xa hơn. Độ tập trung tư tưởng lại mạnh hơn so với lúc trước. Muốn vào đến đây thì gần như mình phải thư giãn toàn bộ cơ thể, như vậy là cả con mắt luôn.
Thế nhưng đến lúc cục màu đỏ xuất hiện như đốm nhang thì tầm nhìn lại ... tự tại hơn nhiều:
Mình có thể nhìn phải, nhìn trái, nhìn xa, nhìn gần trong tư thế này :-).
Càng tự tại bao nhiêu thì câu niệm càng tự động bấy nhiêu.
Chào các Bạn mê Tịnh Độ

Nguyên tắc hoạt động của Tha Lực trong Tịnh Độ.

Khi đệ chết lần thứ nhất và qua được bên đó thì đệ mới biết được nguyên tắc của cái gọi là Tha Lực.

Xuất phát của Phật Lực:
Ngài A Di Đà Phật Phát ra một luồn hào quang rất là mạnh từ đảnh (Phần thịt màu đỏ trên đầu của Ngài) của Ngài.

Phân tích luồn năng lực này:
Trong nhiều kinh Đại Thừa có diễn tả về cung cách phóng quang của chư Phật:
Trích từ “KINH ÐẠI ÐÀ RA NI MẠT PHÁP TRUNG NHẤT TỰ TÂM CHÚ”
Ngài nhập nơi đảnh Tam muội của tất cả Như Lai tối thượng đại Chuyển Luân Vương, liền ở giữa chặng mày phóng một đại hào quang, hào quang kia chiếu khắp mười phương thế giới hết thảy các Phật sát, trong ấy chúng sanh nào gặp được ánh hào quang thảy đều vui mừng. Hào quang kia chiếu khắp rồi, trở về đến chỗ Phật nhiễu quanh ba vòng rồi nhập vào đảnh của đức Như Lai.
Đại khái là như vậy, có nghiã là luồng hào quang xuất phát từ trung tâm năng lực Ajna (từ điểm giữa của chân mày kéo thẳng lên một khoảng cách dài bằng đốt giữa của ngón giữa). Và bay ra, rồi vòng về lại và nhập vào đảnh.

Như vậy, có thể nói là năng lực (hay hào quang) này có hai phần:
PHẦN 1:
Xuất phát từ trung tâm năng lực Ajna và phóng thẳng ra.
Người có thần nhãn (thấy được hào quang bằng mắt thịt) có thể thấy được rất là rõ cái phần này khi nhìn một tu sĩ Tứ Thiền Hữu Sắc đang sử dụng Thiên Nhãn (danh từ của bọn lu bu: Màn ti vi) để quán xét này nọ. Người này thấy ngay từ trung tâm năng lực của tu sĩ này phóng ra một tia laser màu vàng rực, đồng thời người này cũng hiểu là tu sĩ đang sử dụng tinh khí của chính họ để làm chuyện này, do vậy mà sau khi quán này nọ xong thì tinh khí cũng bị mất đi phần nào: Người mà dùng màn ti vi nhiều quá thì cũng xanh xao vàng vọt như những tay ăn chơi hạng nặng.

Cái lợi:
Cái gì đồng dạng là tự động cộng hưởng đó là định luật tự nhiên của vũ trụ. Do vậy mà khi quán thì năng lực này cũng cộng hưởng với nhau! Ví dụ như, ngay lúc này thì có 40 tu sĩ đang quán này nọ thì khi chính mình vào cách quán thì 40 người kia cùng cộng hưởng với mình để mà tự động trợ lực với nhau, mình vẫn bị mệt nhưng hiệu xuất rất là cao. Lần hồi, do tâm mình nó càng nhạy cảm nên khi quán mình cũng cảm nhận được sự cộng hưởng này tạm gọi là “năng lực gia trì” của Thập Phương Chư Phật. Một khi đã gia nhập vào đây rồi thì hành giả lúc nào cũng ở trong tư thế quán, và có thể gọi là khi họ nhìn bằng mắt thịt thì cũng là lúc họ nhìn qua Thiên Nhãn. Thiên nhãn là mắt thịt, mắt thịt là thiên nhãn.

Chú ý quan trọng:
Từ khi lên đến Tứ Thiền thì hành giả mới tác ý về hiện tượng “năng lực gia trì”, thì mới được an toàn. Còn mới tập quán mà đã để ý tới năng lực gia trì thì rất là dể bị Tha Hoá Tự Tại chi phối.

Đặc biệt trong Tịnh Độ:
Khi tu sĩ độ tử thì động tác dể làm nhất là: Quán Tam Tôn (tính từ bên trái qua bên phải là: Ngài Quan Thế Âm, Ngài A Di Đà, Và Ngài Đại Thế Chí). Khi linh ảnh đã xuất hiện thì các Ngài tự động độ người này. Tu sĩ chỉ cần theo dõi coi người này ở vào phẩm nào vậy thôi.

Lời bàn:
Khi tu sĩ tập trung tư tưởng và quán cho ra Tam Tôn thì có thể nói là tu sĩ chính là cái kinh hội tụ để hội tụ lại cái tha lực mà Ngài A Di Đà đã phóng ra từ đảnh của Ngài vào đối tượng hữu duyên. Khi đã hội tụ lại được rồi thì cái tha lực tự động làm việc.
Và dĩ nhiên đó cũng là sự sử dụng của cái phần “phóng đi” của Ngài A Di Đà.

Nay bàn tiếp vê phần năng lực quay về.
PHẦN 2
Sau khi lực phóng quang này đi hết đà, thì hào quang tự quay về với cái đảnh của Ngài A Di Đà.
Phần quay trở về này, được lợi dụng tối đa để cho những tu sĩ chưa được thấy Ngài A Di Đà. Thật vậy, khi mà tu sĩ làm một cách nào đó để biến mình thành ra được một tư tưởng thì tu sĩ này có thể nương vào cái lực quay trở về kia mà có thể về lại ngay cái đảnh của Ngài và do đó mà có thể thấy được Ngài một cách lẹ nhất.

Kỹ thuật niệm Phật:
Lật sách tu của Tiểu Thừa thì có nói đến cách nhập vào cõi Vô Sắc. Kỹ thuật là quán một ngôi sao nhỏ như dấu chấm ở trong cái ngoặc này (.). Như đã biết, Vô Sắc là cõi của tư tưởng. Và dĩ nhiên là nếu hành giả vào được cách nhập định này thì đương nhiên hành giả đã biến thành “tư tưởng”. Nắm đuợc bí quyết này thì Tịnh Độ nằm trong tầm tay.

Nay lại bàn tiếp về “âm thanh” của năng lực quay về này của Ngài A Di Đà Phật.
Vì năng lực này là tư tưởng nên nó cũng có âm thanh là “A Di Đà Phật”.
Nhưng vì đây là Ngài nói cho tất cả các Thế Giới của Uế Độ nghe nên Ngài không thể nói là A Di Đà Phật! A Di Đà Phật! được! mà phải là:
AAAAaaaaaaaa....
DIIIIiiiiiiiiiiiiiiiiiii....
ĐÀÀÀÀÀààààààa.....
PHẬẬẬậậậật.....
Do vậy mà khi hành giả niệm như trên (từng tiếng một và kếo dài) và đồng thời quán cho ra cái chấm đỏ là vô tình được cộng hưởng với tiếng kêu gọi của Ngài và thoả điều kiện (biến mình thành một tư tưởng) để có thể xuôi bườm thuận gió mà về lại đảnh của Ngài và do đó mà có thể gặp Ngài một cách dễ dàng.

Đặc biệt: Cách này rất là khó làm nên tâm hành giả tạm ngưng những cuộc “nội chiến” về Tham Sân Si để chỉ lo chú ý vào công cuộc biến chính mình ra cho được thành một tư tưởng để có thể trở về với Ngài A Di Đà.

Do vậy mà danh từ bọn lubu có nói không ngoa rằng:
Chơi Tịnh Độ y như là em bé nắm chéo áo của ba để đi coi hát bóng (xinê). Em bé này không cần biết luật đi đường, không cần đọc bản đồ, không cần có tiền, không cần gì hết. Chân thì cứ nhảy chân xáo, tay thì cầm cà rem, nhưng khi tới nơi thì cà rem vẫn ăn và xi nê vẫn cứ được coi!

Vì hành giả đi về để thăm một vị Phật thì đâu có ai dành đường, hay khen chê, hay chen lấn gì đâu? Nên phần hộ thân trong công phu cũng không cần thiết.
Đặc Biệt:
Không có ai cấm cho những người Thiên Chúa Giáo lại dùng ý trên để có thể gặp Đức Mẹ qua cách niệm:
AAAaaaaaa....
Vêêêêêê ....
Maaaaaa....
Riiiiiiiiii....
AAaaaaa....
khi đọc như vậy thì hành giả quán 1 chấm màu trắng nhỏ như dấu chấm trong ngoặc (.) hay là quán từng hột của vòng mân côi, sau khi ra nguyên vòng mân côi rồi thì quán cái chấm nhỏ và có màu trắng (.)
Hết
By Tibu 20-2-2009
PHƯƠNG PHÁP ĐỘ TỬ - HỘ NIỆM
Niệm Phật A Di Đà
1. Cách thứ nhất: là niệm Phật xù xì trong miệng:
AAAaaa... diiị... Đaàa... Phaậa t....
Niệm kéo dài 1 giờ đồng hồ, thì sau 1 giờ thì có thể thấy người chết đang đi ở dưới tầm nhìn của mình (y như là mình bay trên họ và ở đằng sau họ, với góc độ nhìn là 30 độ tới 60 độ. Mình càng niệm thì họ càng có thể đi được xa, mình nên niệm cho tới khi họ vượt qua 1 cái biển (biển khổ), và sau khi qua bờ bên kia thì mình mới không niệm nữa.

2. Cách thứ hai: nhìn vào trung tâm Ajna của họ (trung tâm này ở ngay tráng, vào khoảng 1 thốn cao hơn cặp chơn mày. Thốn là cách đo trong các sách châm cứu)

- Sau đó là niệm Phật, thì sẽ có cảm giác là vui khi họ đi về được, hay là nếu hành giả (có thể thấy) thì sẽ thầy Phật A Di Đà đem hoa sen đến để đưa họ về Tịnh Độ

Hỏi: Mình phải ở gần xác chết mới giúp được hay sao? Còn nếu mình không ở gần xác chết thì sao?
Nó có hai cách để làm:
1. Là đi xin cái hình của đương sự về nhà của bà đầm rồi nhìn bằng mắt thịt của mình cho nó... thuộc cái mặt của đương sự. Kế đó là nhắm mắt lại và tự tạo một cái linh ảnh của đương sự thế nào cho cái mặt của đương sự xuất hiện “như thật” ngay đằng trước mặt của mình. Sau khi có cái linh ảnh đó rồi thì dùng câu niệm Phật hay chơn ngôn của Ngài là: Om Amitabha Hrih svaha và phóng mạnh cái niệm đó vào cái linh ảnh đó.
2. Nhập Tứ Thiền Hữu Sắc và khi tìm ra cái thần thức của họ đang lang thang đâu đó thì mình hồi hướng công đức của mình cho họ, hay là dùng câu niệm Phật mà tiếp dẫn họ.
Nhận xét:
làm xong cái chuyện... cách sơn đả Ngưu (cách một hòn núi mà giết được con trâu)... này thì nó mệt lã người y như là bị bỏ đói lâu ngày mà còn bắt mình leo núi nữa đó. Hành giả có một sự nhạy cảm rất là đặc biệt thì khi hành pháp nào đó thì nên “Hộ Thân” cho kỹ trước cái đã nghe. Ý của đệ là nói về cái cảm giác “cận định” (rờn rợn xương sống) mà Hành giả đã cảm nhận đó mà.
Hỏi: Làm thế nào để giúp người thân đang hấp hối được bớt sợ sệt và an lạc khi gần kề cái chết?
Bệnh nhân Đạo nào thì nên cho người Đạo đó ... hướng dẫn. Riêng Đạo Phật thì mình nên dùng tiếng trầm nhất để khuyên, tức là khi khuyên thì nên dùng giọng Bass.
Trường hợp điển hình như sau:
Phương cách:
- Em có cảm thấy sợ không?
- Có.
Khuyên: -Như vầy đây nè: Em sẽ thấy hơi ngợp thở một tý, rồi kế đó là hiện tượng mất cảm giác bằt đầu từ chân lên dần cho tới ót. Cảm giác lạnh này sẽ không cho em để ý đến hơi thở nữa.
Cười nhẹ:
-Vậy hả anh?
Khuyên tiếp:
-Sau đó em thấy một đám mây, đúng hơn là: em đang ở trong một cái ống mà cái thành của nó là mây xám và đằng xa là một vùng sáng rất là mạnh.
Cười nhẹ:
-Em vẫn sợ.
Khuyên tiếp:
-Tất nhiên là sợ, nhưng em nên niệm Phật A Di Đà và đi vào vùng sáng đó. Việc của em ở đây đã xong rồi, việc còn lại để anh lo hết cho :-). Em đừng lo lắng gì cả.
Sau đó một tiếng đồng hồ, thì cơn ngợp thở đến, cô nắm bàn tay của Anh Nhâm hơi mạnh. Theo lời dặn của đệ thì lần này, Anh Nhâm nói với giọng trầm nhất và nhắc lại với cô em (nói vào lỗ tai của Cô):
-Nó sáng lắm lận, cứ một lòng niệm A Di Đà Phật và đi vào vùng sáng đó.
Đôi môi mấp máy như cố nói một điều gì và cô em tắt thở
Anh Nhâm kể tiếp:
Sau đó, theo lời em dặn, anh niệm nho nhỏ Phật với giọng trầm nhất vừa niệm vừa nhìn vào huyệt Ấn Đường.
Toàn thân bỗng nhiên lạnh toát, bàn tay của Cô, anh cầm cũng lạnh luôn. Và cũng theo lời căn dặn của em, anh vừa niệm Phật nho nhỏ với giọng trầm nhất, Anh rờ cái trán của Cô và nhận thấy rằng chỗ này nó nóng như bị sốt cao độ vậy và sau đó khoảng năm phút, anh mới xác định được là điểm nóng cuối cùng là ngay cái thóp của Cô ấy.
Cả nhà À lên một tiếng vui vẻ:
-Tịnh Độ, Cô về Tây Phương rồi :-). :-). :-).
Khi mình đi trì tụng cho người chết thì có nghe ai nhắc đến cái chuyện gì đang xảy ra ở cái thể xác kia không chớ? Có ai để tay lên người chết để kiểm tra cái điểm nóng cuối cùng không?
Biết rằng:
• Nóng ngón chân cái là A Tỳ
• Nóng háng là súc vật
• Nóng bụng dưới là quỷ đói
• Nóng trên lỗ rún là Thần
• Nóng ngực là Con Người
• Nóng mặt là Chư Tiên ở Dục Giới
• Nóng trán là Chư Thiên ở Sắc Giới
• Nóng đỉnh đầu là Tịnh Độ
Tịnh Độ có một công dụng nữa là độ tử. Tập cái gì hay làm cái gì đi nữa mà không làm đưọc chuyện độ tử (giúp cho những người đã chết) thì cũng chỉ là bánh vẽ, không có ích lợi gì cho mình và cho người.
Cái lớn lối thứ nhất của người tu Tịnh Độ là như sau:
Khi đi hộ niệm, mà người hộ niệm đến trước (có mặt sớm nhất) thì gia đình may mắn đó có thể biết được kết quả của sự hộ niệm.
Cái lớn lối thứ hai của người tu sĩ Tịnh Độ là khi đi hộ niệm mà lại đi đến sau thì: tu sĩ phải biết người đi trước đã độ cho người này tới đâu rồi. Nếu người tới trước đã độ xong rồi thì tu só sẽ tuyên bố với chủ nhà rằng: Nghi thức độ tử không cần thiết nữa. Còn nếu chưa xong thì tu sĩ sẽ độ tiếp và gia đình sẽ được tường thuật lại đầy đủ chi tiết.
Ngoài ra, đôi khi, gia đình còn nhận được lời nhắn nhủ cuối cùng của người đã chết.
Hai đề tài này ngoài bọn lu bu ra thì chưa ai được nghe nói tới trong bất kỳ bài giảng nào về Tịnh Độ
Hỏi: Người chết đạo công giáo mà mình niệm Phật thì có khiến thần thức họ thêm bực mình rồi nổi sân si không?
Họ không biết gì hết là vì cái công thức tôn giáo hàng ngày của họ là chỉ là những suy nghĩ rất là ấu trĩ. Và không có một tác động nào trong lúc họ đối diện với cái chết của chính họ cả. Cho dù là một người vô thần nòng cốt chí đến một anh chàng sùng đạo nào đó thì khi chết họ đều được coi lại cuốn phim của đời họ. Cuốn phim đó sẽ đứt phim khi tâm của họ bị dao động bởi những tình tiết nào đó: Họ sẽ giận dữ hay thất vọng ê chề hay xấu hổ... và như vậy họ sẽ không còn có thể coi cuốn phim đó nữa mà chỉ còn cái hình ảnh cuối cùng đó nó ám ảnh mà thôi. Ngay lúc đó mà có một người nào đó dùng cách thức:
- Phóng mạnh cái niệm đó ra đằng trước mặt,
- Nhìn vào trung tâm năng lực Ajna.
- Phát tâm dũng mãnh cố giúp người này.
Thì người này sẽ cảm thấy chấn động và chính họ sẽ nghe một tiếng nói trong không gian và họ sẽ không còn cách nào khác là theo tiếng nói đó để mà đi theo mà thôi. Ngay lúc này, họ không có thì giờ để nhớ lại rằng mình là con chiên, hay là mình đã quy y ai cả chỉ còn có cái tiếng nói trong không gian này mà thôi. Hiện tượng này sẽ xảy ra bất kỳ một ai, cho dù đó là một đại đức, một thượng toạ, một linh mục, một ông vô thần... mặc dù rằng ở ngoài đời: dân chúng cho rằng mình đạo cao đức trọng, cho dù rằng họ có phong chức cho mình là thầy trù trì này nọ, cho dù rằng họ trao tặng mình những bằng cấp này kia... thì khi chết mình cũng phải đối diện với cuốn phim bất hủ này. Và mình sẽ bị những tình tiết đó nó lôi cuốn và một khi đã bị lôi cuốn thì ai cũng như ai. Sự thật nó... dã man như vậy đó.
Mến.
TB: Tất nhiên là vì người tiếp dẫn chỉ ngồi một đống đó và nhắm mắt lại im lặng trì niệm danh hiệu hay chơn ngôn thì chỉ có người có tha tâm thông thì mới biết mà thôi còn bàn dân thiên hạ thì mỉa mai:
-- Hứ cái đồ hư đồ thúi, đang lúc tang gia người ta bối rối mà cứ ngồi đó mà ngủ gục!!
Hỏi: Làm thế nào để thân trung ấm giảm đau trong vòng 49 ngày đầu?
Có nhiều cách.
1. Niệm Phật:
Niệm xù xì trong miệng trong khi nhắm mắt 100%. Khoảng 1 giờ sau thì độ tập trung của tu sĩ tài tử này mới có thể thấy đưọc người đã chết. Hồi hướng công đức tu hành và chúc người đó tươi đẹp, khỏe mạnh ra và hạnh phúc. Sau rồi nếu người đó còn đứng xớ rớ trong tầm nhìn của tu sĩ tài tử này thì tu sĩ hộ niệm cho người này về trên đó chơi luôn cho rảnh việc.
2. Nhập Tứ Thiền Hữu Sắc rồi quán ra người đó và hồi hướng công đức tu hành cho người đó.
TỤNG KINH

Tụng kinh ồn ào rôm rả thì cũng có thể độ được người ... sắp chết như mình :-). :-). :-).
Tụng kinh hay chú theo kiểu vi thinh (đọc xù xì nho nhỏ trong miệng) thì có thể gây ảnh hưởng đến những cõi giới thấp sống xen kẽ với mình, những cõi mà ông bà mình thường gọi là: Cô Hồn Các Đảng.
Tụng bằng tâm rồi nhắm mắt đồng thời chú tâm vào một điểm ngay đằng trước mặt của mình thì khoảng ... một giờ đồng hồ sau thì có thể thấy cái cảnh mà người đang chết đang đi qua. Tác ý rằng họ cứ theo tiếng niệm này mà đi... Cảnh giới xuất hiện ra nhiều thêm và sẽ tới lúc hành giả sẽ thấy người chết vào vùng ánh sáng, lúc này mình sẽ biết rằng sức tiếp dẫn của mình chỉ có bấy nhiêu :-).
Nhưng dùng quán tưởng ở Tứ Thiền Hữu Sắc thì trong vài trường hợp hữu duyên với mình thì mình có thể độ được người chết một cách ngon lành:-).
Độ Vong Linh người thân đã chết lâu năm
Đối với Bạn nào có những triệu chứng sau đây có thể giải quyết bằng cách này:
1. Triệu chứng hay hội chứng:
a) Thường nằm mơ và thấy đi thấy lại một người thân đã quá cố
b) Khi mơ thấy người đó lại có cảm giác tê rần cả người mặc dù đang ngủ
c) Tâm bất an, và hình như trong thâm tâm biết rằng người thân chưa được yên ổn lắm cho lắm.
2. Giải quyết:
Thư giãn tất cả các bắp thịt từ chân lên đến đầu và thư giãn từng phần một ví dụ: ngón chân... lòng bàn chân... cổ chân... đầu gối... đùi
Niệm A Di Đà Phật trong tâm như sau:
a) AAAaaa... diiị... Đaàa... Phaậa t....
Cứ mỗi lần niệm cố gắng đẩy mạnh niệm về một điểm phía trước và đưa điểm đó ra xa, càng lúc càng xa [Chỉ đẩy điểm đó ra xa thôi chứ đừng cho một toạ độ nào cả (Ví dụ: mình phóng cái điểm này qua nhà hàng xóm, rồi xuống down town rồi về Việt Nam...)] ngay đằng trước mặt, [không lệch trái hay lệch phải hay hướng xuống dưới hay chếch lên trên].
b) Hay dùng cách thứ hai cho dễ hơn:
Niệm chậm rãi, khoan thai niệm này nối tiếp niệm kia: a di đà phật, a di đà phật, a di đà phật,... Hít vào hay thở ra, chúng ta đều đẩy mạnh niệm lực đó hướng về ngay đằng trước mặt.
Chúng ta có thể thấy được người quá cố với một độ dốc là 45 độ tới 60 độ như là từ trên cao nhìn xuống. Cứ giữ khoảng cách biểu kiến đó, đừng tác ý tới gần họ. Nguyên tắc là đưa họ về vùng có ánh sáng và lên cao. Trong khi làm việc đó không tác ý nói chuyện với họ. Nếu trong lúc làm, mà tự nhiên biết rằng họ bị ngợp thở: Nên hồi hướng công đức tu tập đến cho họ và làm tiếp. Khi tác pháp là làm một lèo luôn đừng có ngưng giữa chừng cho tới lúc làm không nỗi nữa mới thôi. Chúc các Bạn có những hội chứng trên thành công và an lành.
Hai Lúa.
PHƯƠNG PHÁP TRÌ CHÚ
Như là học sinh học võ thuật với đủ thứ binh khí: Đoản côn (khúc gậy ngắn), trường côn (khúc gậy dài), nhị khúc (roi của Lý Tiểu Long), Tam Khúc (dài gấp bốn lần cái nhị khúc ..Cái nào cũng ... chết người hết :-). Nhưng có người thì thích vũ khí dài, có người lại thích cái ngắn. Như vậy Chú cũng cùng một ý như trên. Nay bàn về trình độ cao thấp khi trì chú và những triệu chứng của nó.
Trì niệm chú thuật thì có rất là nhiều trình độ:
1. Tự Vệ Nhập Môn:

Công dụng là dùng ngôn ngữ
"Có_Vô_Lượng_Nghiã" của Thần Chú để thô tâm bớt vọng. Cao hơn một tý thì chư quỷ thần theo hộ chú vì ưa thích tính tình của mình như: sự cố gắng tu tập tuy rằng không có thời giờ. Từ đây tu sĩ tài tử đã có người hộ vệ nên linh tính khá bén nhậy.
2. Cận Định Trì Chú:

Vì thô tâm thanh tịnh nên tình trạng Cận Định (gần nhập được chánh định) xuất hiện: Tình trạng này làm cho hành giả cảm nhận có những người theo mình hay ở phiá sau lưng mình. Mình có thể cảm nhận sự xuất hiện của họ qua cảm giác mát lạnh sau gáy hay nằng nặng sau cổ ở vùng bã vai. Trình độ này nếu phước báu nhiều thì có thể chữa bệnh Ma Nhập hay giải bùa ngãi và đôi khi chữa được một số thân bệnh nhưng kết quả không rõ ràng cho lắm. Bạn bè vô hình thường là cõi Tha Hóa Tự Tại là nhiều.
3. Chánh Định Trì Chú:
Tới đây thì mới có thể gọi là tui tập Mật Tông được rồi đây :-). Vì hầu như các khai triển Đàn Pháp đề đòi hỏi Hành Giả phải có trình độ nhập chánh định tối thiểu là Tứ Thiền Hữu Sắc. Còn các từng thiền khác như Tam hay Nhị và Sơ Thiền thì tâm lực đều còn yếu và như vậy : chưa đủ lực để chuyển câu
Chú và học hỏi ở câu chú đó.
Tóm lại trình độ của hành giả chỉ là Tự Vệ Nhập Môn nên tụng câu nào mình thấy quen là được rồi :-).
PHƯƠNG PHÁP TRÌ CHÚ ĐẠI BI
Đệ có cuốn Đà La Ni xuất tượng của Nguyên Phong dịch, nguyên câu (trang 15) là:
Phát nguyện ấy rồi, chăm lòng xưng niệm danh hiệu của tôivà phải chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà Như Lai làđấng Bổn Sư của tôi, vậy sau mới tụng đủ năm biến, làđã trừ diệt tội nặng trăm ngàn muôn ức kiếp sanh tửtrong bản thân.
Kinh nghiệm bản thân của nhóm lu bu thì không cần tới năm biến mà chỉ cần một biến thôi cũng đủ, nếu có một tâm lực mạnh. Cái chìa khóa của cách trì tụng không nằm ở con số năm mà lại nằm ở đoạn trên đó, mà đệ xin ghi lại một lần nữa cho rõ:

Phát nguyện ấy rồi, chăm lòng xưngniệm danh hiệu của tôi và phải chuyênniệm danh hiệu đức Phật A Di Đà Như Lailà đấng Bổn Sư của tôi, vậy sau mớitụng đủ năm biến.
Khi đọc tới đây, đệ hiểu rằng phải đọc liên tục và không được dứt niệm. Như vậy, thì dùng cái gì hay cách gì để cùng một lúc có thể đọc:
1. Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát (y như kinh đã ghi câu: "chăm lòng xưng niệm danh hiệu của tôi")
2. Nam Mô A Di Đà Phật (để thoả điều kiện: "và phảichuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà Như Lai là đấngBổn Sư của tôi").
3. Và trì tụng chú Đại Bi, như kinh đã chỉ cách: (vậy sau mới tụng đủ năm biến).
Đệ tìm ra có hết thảy... ba cách để có thể trì tụng:
Cách 1:
Dùng trình độ chánh định của Tứ Thiền Hữu Sắc để quán cho ra cả ba vị: Phật A Di Đà ở ngay giữa, bên phải của Ngài là Bồ Tát Quan Thế Âm, bên Trái của Ngài là Đại Thế Chí Bồ Tát. Tất cả đều đứng trên Hoa sen năm cánh. Sau đó là tác ý đọc chú Đại Bi.
Cách 2:
Cũng dùng trình độ chánh định trên mà quán cho ra chữ Hrih (vốn là tâm chú của Quan Thế Âm Bồ Tát và cũng là tâm chú của Ngài A Di Đà Phật). Chữ có màu đỏ trong cái mặt trời màu vàng sáng chói. Và sau cùng là tác ý đọc Chú Đại Bi.
Cách 3:
Nhắm mắt nhìn chăm chú vào một điểm ngay đằng trước mặt và trì chú. Cách này chỉ dùng niềm tin với một tâm lực yếu hơn hai cách trên. Biểu hiện khi trừ diệt tội nặng:
Ở hai cách đầu (1 và 2) thì linh ảnh biến mất và sẽ xuất hiện một màn ảnh rất là lớn (có thể nói là cả cái tầm nhìn 360 độ). Ở ngay giữa là một hình ảnh khá lớn, hình ảnh này mang ý nghĩa tổng quát của những khuynh hướng gây tội của mình, và chung quanh cái hình chính này là những hình nhỏ như ngón tay cái, mỗi hình lại diễn tả chi tiết nhũng lần phạm tội của mình, nếu mình tập trung vào cái hình đó. Kế đó, một giọng nói xuất phát từ một điểm cao hơn tầm nhìn khoảng 45 độ và ngay đằng trước mặt. Giọng nói này vang khắp cả bầu trời làm chấn động cả không gian:

- Ông muốn tôi xóa hết hay là để đó làm kỷ niệm?
Hễ mình tác ý xoá thì màn ảnh liền trắng (Cô Trang), còn hễ mình tác ý là để làm kỷ niệm (Đệ và Cô Vân) thì màn ảnh còn y nguyên. Nhưng khi nhìn vào những hình ảnh nhỏ đó thì mình chỉ thấy đó là chuyện của ai đó đã làm chớ không phải là mình đã làm, nhưng mình hiểu rằng là chính mình đã làm. Và giọng nói đó lại một lần nữa vang lên với bài kệ của kinh nhật tụng quen thuộc. Ở cách 3 thì không được rõ ràng như vậy mà chỉ hiểu mang máng rằng mình cảm thấy nhẹ nhàng trong tâm và những giấc mơ với những nhân vật trong gia đình đã quá cố xuất hiện cám ơn mình đã trì tụng và họ đã được nhẹ tội. Sau khi đã trì tụng một thời gian khá lâu.
"Giáo Lý của tui không phải là để đến
mà Tin theo, mà là để Thực hành"
Đức Thế Tôn


THỈNH TRỐNG CHUÔNG BÁT NHÃ
Có một hôm, Cô Vân, trong lúc vui câu chuyện, mới hỏi Hai Luá tui rằng:
“Ngươì ta thường viết nói rằng “Tự Tánh Di Đà”, hay “A Di Đà là chính anh!” Vậy anh có cái cách nào chứng minh rằng câu đó là đúng không?”
Vì là tu bụi đời (không có ông Thầy nào dẩn dắt hết) nên Hai Luá tui đề nghị cô về làm như sau:
“Tối nay, khi em qua Tây Phương Cực Lạc rồi đối trước cảnh đó mà phát nguyện rằng:
Nguyện xin tất cả các chúng sanh trong chín phẩm được thành nhất sanh bổ xứ và cùng với tôi, phát nguyện xuống Nam Thiện Bộ Châu để độ các chúng sanh khác!
Làm xong nhớ cho anh biết và coi kết quả nó ra sao?
Cô về nhà làm y chang, sáng hôm sau, cô nói:
“Khi em đọc xong câu nguyện đó thì ao hồ bổng nhiên trống trơn, không gian bổng vang lên hồi trống Bát Nhã (té ra điệu trống này ở chổ đó). Và sáng nay tóc em tự động rụng rất nhiều, em nghĩ rằng nếu tới chiều thì đầu em thành trọc, và khi em nhìn tóc em rụng thì tư tưởng sau đây tới với em: “Phiền Não rơi rụng!”
“Vậy em muốn nó hết rụng không?”
“Muốn”
“Có rất nhiều cách làm cho ngưng tóc rụng nhưng cách này là hay nhất: Em lại vào cảnh giới đó nữa và đối trước Phật A Di Đà em đọc Tứ Đại Nguyện!
Sáng hôm sau, Tóc hết rụng, cô nói:
“Em hiểu tại sao trong các tranh ảnh hay diển tả các đệ tử của Phật lại trọc đầu nhưng bất cứ ông Phật nào cũng có tóc cã!”
“Tại sao?”
Đầu tiên, hình ảnh các chúng sanh có tóc, tóc đó biểu tượng cho cái Khổ hay phiền não, sau khi tu thì phiền não rơi rụng thể hiện bằng hình ảnh thực chứng: Đầu trọc một cách tự nhiên, và sau đó nhờ phát nguyện mà tóc lại mọc lại: Tóc này có lại là do Đại Nguyện!”
Như vậy, Hồi Chuông và trống Bát Nhã có nguồn gốc từ đây.

ĐỘ SANH & GIẢI NẠN
Trong bộ phim DVD nhiều tập, khi nói đến làm sao để hồi hướng cho người thân đang sa lầy vào những thói hư tật xấu và có thể dẫn đến hậu quả tai hại không sớm thì cũng muộn. Anh HL đã diễn đạt như là một khám phá mới mà theo đệ hiểu như là một mật pháp chưa bao giờ được nói ra. Vì tính cách quan trọng của lời nguyện và phương pháp, đệ mạn phép ghi lại để quý huynh tỷ tiện áp dụng khi gặp chuyện tương tự và đang bí lối và đang cần một giải pháp để giúp đỡ người thân của mình.
“Trước sau gì người ta cũng bỏ thói hư tật xấu…Với công phu này, tôi nguyện xin cho ….. của tôi được gặp nhân duyên sớm trước khi hậu quả tai hại xảy ra” HL.
Lời nguyện này nên tác ý vào giữa thời công phu, sau đó thì tiếp tục công phu tiếp với tâm thức hoàn toàn quên hẵn lời nguyện và chỉ chú tâm vào công phu mà thôi.
Thời điểm để công phu và phát ra lời nguyện là thời gian chập choạng vừa mới ngủ của người thân mà mình muốn hồi hướng.
Đây là một cách gởi thư bằng tâm linh, và lời nguyện như là một lá thư, và người nhận là người thân của mình. Sau khi bỏ thư vào thùng thư thì mình sẽ tiếp tục công phu và quên hẵn cái thư đó đi (tiếp tục công phu và quên hẵn lời nguyện mình phát ra). Cứ như vậy mà làm nhiều lần trong lúc công phu thì sẽ tác động đến hệ tư tưởng của người nhận.
CÁCH NHÌN HÀO QUANG
Nhìn vào bàn tay người khác phái (người yêu) là tốt nhất.
Nếu không có thì... dùng bàn tay của mình vậy.
Các ngón tay xòe ra hết cỡ, cách khoảng một vài cm một cái nền có màu hơi tối. Dùng đèn ngủ có màu hồng lợt (anh Sơn) hay bình dân hơn: Một cái đèn hột vịt được vặn lên đừng cho có khói là được rồi. Hai Lúa tui, thường để cái đèn dầu đó đằng sau lưng và dùng cái bóng mình làm nền là tự nhiên hơn hết. Nhìn vào cái viền các ngón tay (ngón giữa và ngón trỏ). Nếu nhìn đúng cách sẽ thấy như có một màn sương, sau đó sẽ thấy một màu xanh dương lợt hay màu tím lợt. Vẫn tiếp tục nhìn như vậy một thời gian: Bất chợt sẽ thấy lóe lên màu sắc HQ của bàn tay. Tập cho thuần thục bài tập trên, sau đó mới tập ngoài ánh sáng tự nhiên...
Nếu muốn thấy nguyên cấu trúc của HQ trên một con người:
- Nhìn vào một điểm tưởng tượng gần phía trước mình (khi đó sẽ thấy có 2 đối tượng vì do mình lé)
- Sau đó di chuyển điểm tưởng tượng đó về phía đối tượng cho tới khi hai đối tượng chập lại một.
- Tập trung cái nhìn vào điểm đó. Đối tượng mờ mờ đằng trước mặt sẽ lóe sáng lên với tất cả màu sắc và cấu trúc của HQ.
Khi làm thì thở vững chắc, sâu và chậm. Tất nhiên là không cố gắng quá sức mà bị mệt oan uổng. Tập trường kỳ cho tới khi thấy màu sắc mới thôi. Nếu tập trung cao hơn: Mình sẽ thấy được nguyên hệ thống kinh lạc của châm cứu: Châm vào điểm sáng nhất hay tối nhất: Bịnh sẽ giảm.
Làm cách này mình sẽ rất mệt vì đã dùng thần thông can thiệp vào nghiệp quả của người khác.
Song Hành Nhập Định
Chỉ là một thủ thuật: đó là dùng tha tâm thông và cách nhập định để rà theo tiến trình tu hành của đối tượng với ý đồ là để đo lường một trình độ công phu bất kỳ nào đó.
Khi đối tượng tu tập đến cái giới hạn cao tột, hành giả có thể theo giỏi và biết được cái giới hạn cuả đối tượng và nguyên nhân của giới hạn đó, và có thể tìm ra phương pháp để giúp đối tượng vượt qua giới hạn đó mà tiến tu đến cảnh giới cao hơn.
Kẹp nách nó có ba cách:
1. Thôi miên: Tu sĩ thôi miên hành giả và khi lúc hành giả bất tỉnh thì cũng là lúc tu sĩ xuất hồn bằng luồng bhavanga và đưa đi dạo chơi lòng vòng trong thành phố hay một cảnh giói nào đó. Vưà đi tu sĩ vừa hồi hướng công đức tu hành của tu sĩ cho hành giả.
2. Đo Tâm lực của hành giả: Tu sĩ quán hành giả và đo tâm lực của hành giả và lưu vào bộ nhớ của màn ti vi.
a) Và đợi tới lúc: Hành giả tu tập thì tu sĩ chen vào và cho hành giả cảm nhận được sự thanh tịnh của tu sĩ bằng cách "Thần Giao Cách Cảm" cho hành giả biết câu niệm "Thanh Tịnh, Đại Thanh Tịnh"
b) "Thần Giao Cách Cảm": Tu sĩ dùng màn ti vi đưa hành giả vào đó và nhìn vào trung tâm Ajna của hành giả. Kế đó là tu sĩ tác ý truyền cái màn tivi của mình vào cho hành giả thấy được và đồng thời tu sĩ cũng truyền luôn câu niệm "Thanh Tịnh, Đại Thanh Tịnh" cho hành giả cùng niệm với mình.
3. Tu sĩ đo tâm lực của hành giả và hẹn giờ công phu.
a) Tu sĩ đợi tới lúc hành giả đã ổn định công phu, có nghiã là hành giả chỉ tập được tới đó là hết sức thì tu sĩ dùng màn tivi cho hành giả vào đó và cùng lúc xuất hồn bằng luồng Bhavanga và hiện ra trước mặt hành giả và ngồi đối diện với hành giả.
b. Tu sĩ vẫn trụ ở Chân Như và tác ý hồi hướng công đức tu hành của tu sĩ cho hành giả
- Nếu hành giả có tâm nhu nhuyễn, dễ sử dụng thì: Hành giả sẽ có thể thấy được cái bóng mờ mờ của tu sĩ đang ngồi trước mặt mình. Sau khi thấy mờ mờ thì hành giả trở về đề mục của mình và nhấn ga tinh tấn tu hành.
- Nếu tu sĩ biết là hành giả chưa có tâm nhu nhuyễn và dễ sử dụng thì tu sĩ leo vào màn tivi và xuất hiện đằng trước mặt một cách từ từ, ăn khớp theo tâm lực của Hành Giả.
Hành giả cũng có thể thấy được cái bóng mờ mờ của tu sĩ đang ngồi trước mặt mình. Hành giả vào lại đề mục và nhấn ga tu tập.
Ghi chú:
Trong cả hai trường thấy hình bóng mờ mờ trên: Hành giả đều có cái cảm giác là không gian nó lắng xuống và trở nên thanh tịnh. Khi có cái cảm giác này rồi là trở về đề mục và nhấn ga tu hành.
Chú ý: Nhu nhuyễn là có thể dưới sự tác ý của mình, mình làm cho đề mục to hay nhỏ một cách dễ dàng.
Dễ sử dụng: Là hành giả có thể tác ý và thay đổi đề mục của mình một cách dễ dàng.
Đọc thêm: Kinh Nghiệm Song Hành Nhập Định
Tu Sĩ Trợ Lực Tu Sĩ

Rải cái Tâm Từ Bằng Linh Ảnh: Cái này lại dành cho bọn Mật Tông.
Tất nhiên là tuyến xuất phát vẫn là trình độ nhập định khoảng "Tứ Thiền Hữu Sắc". Sau đó là nhập vào một Mandala, Vòng Phép hay Đàn Pháp nào đó. Ví dụ như là Đàn Pháp Quan Thế Âm đi. Sau khi linh ảnh này xuất hiện như thật ngay đằng trước mặt của mình rồi thì hình ảnh lại chuyển thành hình nổi (3D) phóng hào quang màu vàng rực sáng chói như mặt trời không có mây che và vào lúc 12 giờ trưa. Hình ảnh càng sáng hơn nữa khi hành giả lại cẩn thận thử cái linh ảnh này bằng cách quán cái ấn "Hộ Thân" và phóng cái ấn này vào ngay ngực của linh ảnh.
Sau đó là công thức phóng cái tâm từ: Khi tác ý như vậy thì từ cái "Chơn Như" cái thấy lại thấy được cái cảnh như sau:
1. Linh ảnh Ngài Quan Thế Âm ngồi (hay đứng) trên hoa sen chỉ có năm (5) cánh.
2. Linh ảnh của chính hành giả đang ngồi tư thế Liên Hoa (Padmasana).
3. Linh ảnh của đối tượng mà hành giả muốn rải cái Tâm Từ, linh ảnh này cũng ngồi thế Liên Hoa
Cả ba linh ảnh này hợp thành một hình tam giác đều với Linh ảnh của Ngài Quan Thế Âm ngồi ở trên đỉnh.
Rải Tâm Từ: hành giả phát nguyện với linh ảnh Ngài Quan Thế Âm và cùng với mình (hành giả) rải tâm từ và thấm nhuần cái tâm từ cho đối tượng.
Từ cái thấy ở "Chơn Như", hành giả sẽ chứng kiến một cách phóng quang rất là ngoạn mục. Đầu tiên, lời nguyện của hành giả biến thành một tia hào quang màu vàng rực phóng lên linh ảnh của Ngài Quan Thế Âm, Linh ảnh của Ngài lại phóng dội ngược lại hành giả không những một tia mà lại là một chùm hào quang cũng màu vàng rực. Kế đó một tia hào quang nữa lại xuất hiện cũng từ hành giả bay ngang qua đối tượng. Ngay khi tia này đụng đến đối tượng thì Linh ảnh của Ngài cũng phóng về phía đối tượng một chùm tia hào quang.
Ngày mai, mọi tình trạng hục hặc, nghi ngờ, không ăn rơ, thù vặt, hoạnh họe v.v... giữa hai đối tượng đều tiêu theo mây khói. Lấy Huyển trị Huyển là nghề của bọn Mật Tông mà.

Đồng Đội Trợ Lực

Điều kiện là cùng một đề mục với nhau. Thí dụ như đề mục quán lửa.
Theo phương thức của hốt hụi, đó là tất cả cùng góp vào (công phu), và chỉ có một người được sử dụng lượt của mình để hốt hụi (nhận hồi hướng tu tập của đồng đội). Như vậy người được hồi hướng sẽ gom tất cả tâm lực tu tập của nhóm cho mình và nhờ lực đẩy của đồng đội mà tiến tu.
Tất nhiên là sau đó đến lượt mình công phu và hồi hướng cho người khác.
Kinh Nghiệm Song Hành Nhập Định
Đề cử một trường hợp về Khán Thoại Đầu mà đệ gặp hồi ở Đà Lạt: Anh Nhâm tập tành rất là siêng năng và có một cuộc sống rất là kỷ luật. Anh có ý định là đi tìm người ấn chứng xong rồi... bận áo vàng đi tu luôn... Thì Anh lại gặp đệ, Anh nói lại là anh nhìn vào cái hầm Vô Minh đó... vài năm và phát hiện ra rằng khi nhìn vào đó thì lại có nhiều tư thế nhìn lắm:
1. Chỉ để ý nhẹ nhàng vào đó: theo ý anh thì... không ăn thua
2. Nhìn chăm chăm vào đó, cái nhìn này nó có lực đàng hoàng nha! Và anh làm điệu bộ nhìn chăm chăm vào một điểm rất là... ngầu. Theo ý anh thì nó cũng đường được!!! Nhưng... chưa ăn thua.
3. Thấy cái chỗ trước khi mình sanh ra cái tư tưởng trong đầu, và nhìn chăm chăm vào đó, không cho nó đi đâu hết, kềm nó lại! Đôi khi lại cố găng nhét thêm cái yên lặng, và thanh tịnh vào cái chỗ đó và có cảm giác như nó thành một khối luôn!!! Cái này là ăn thua! Vì nó nhức đầu kinh khủng luôn! Mình phải xả chớ không thôi mình có cảm giác là sẽ chết. Xả xong một vài ngày, có khi vài tuần rồi làm lại và sau đó thì cơn nhức đầu cũng yếu đi và hết thì... nó hiện tiền.
Và anh nói tiếp là: Anh định đi xuống Thầy TT để xin ấn chứng và bận đồ vàng rồi ôm bình bát luôn.
Đệ nói rằng:
-- Em không biết cái cách này nhưng về cõi giới thì em rất rành.
Và đệ lại đề nghị rằng:
-- Anh thử làm cho mạnh lên cái tình trạng mà anh đang hiện tiền đó, và em sẽ dùng cách thức “Song Hành Nhập Định” và rà và coi nó đi tới đâu!
Và sau buổi ăn cơm tối, anh làm liền.
Đệ dùng “Song Hành Nhập Định” Chỉ là một thủ thuật: đó là dùng tha tâm thông và cách nhập định để rà theo tiến trình tu hành của đối tượng với ý đồ là để đo lường một trình độ công phu bất kỳ nào đó.
Vừa ngay lúc anh ấy vào ngay cái chỗ đó thì đệ liền nói to lên:
-- Phi Tưởng Phi Phi Tưởng.
Anh bàng hoàng và dĩ nhiên là... chưa tin.
Đệ nhận ra được cái gợn này (tình trạng chưa tin, vì còn cái trớn của... tha tâm thông) và liền nói:
-- Anh vì sanh tử mà tìm người ấn chứng hay chỉ là đi tìm người “nói theo ý muốn” của mình?
-- Vì sanh tử!
-- Anh cũng vì sanh tử mà tu hành, em cũng vì sanh tử mà cố gắng trình bày, hai anh em mình đến nhà anh Sơn. Chắc chắn nếu đây là chuyện sinh tử thì anh ấy chưa có ngủ đâu và không chừng anh ấy còn chờ cửa cho bọn mình nữa đó!
Anh Nhâm liền đứng lên:
-- Đi liền đi.
Đến nơi, cửa sắt còn mở một khoảng nhỏ, và anh Sơn ngồi tại phòng khách, vừa mới bước vào, chưa kịp chào hỏi.
-- Anh Phước nói rằng anh lên Phi Tưởng Phi Phi Tưởng là đúng rồi đó. Anh vẫn chưa tin? Thì đây: tui nói, anh kiểm chứng.
Thế là nguyên cái lý lịch của anh Nhâm được anh Sơn trình bày lại. Sau khi trình bày xong, anh Sơn đề nghị:
-- Còn một bước nữa, khi nào anh rảnh, anh cứ đến đây, chúng tôi sẽ đưa anh vào đó bằng một phương tiện đặc biệt.
Thế là hai anh em kiếu từ ra về, khi đi ra thì anh Sơn nói rằng đóng giùm ảnh cái cửa sắt lại luôn. Sau khi qua nhà anh Sơn và được anh ấy xác định là anh Nhâm chưa có vào được Chân Như mà chỉ mới có đến một trong bốn cõi Vô Sắc đó là cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Trên đường về thì anh Nhâm có hỏi đệ rằng:
-- Anh Sơn nói là sẽ đưa anh vào đó bằng một phương pháp đặc biệt, phương pháp đặc biệt này là cái gì vậy?
-- Anh ấy dùng một phương pháp tà đạo để làm chuyện chính đạo
-- Phương pháp Tà đạo cũng được, miễn rằng kết quả tốt đẹp là được rồi!
-- Không đơn giản như anh nói đâu. Không phải là chuyện phù thủy (vốn là tà) giúp người lương thiện (nên được gọi là chính) đâu mà cái này nói ra là anh ớn lạnh liền.
-- Thử nói đi coi anh có ớn lạnh không?
-- Anh ấy sẽ thôi miên anh và trong khi anh xuất hồn thì anh ấy cũng sẽ xuất hồn và cả hai cái linh hồn này cùng nhập chánh định để đi vào các cõi Hữu sắc và sau đó là các cõi Vô Sắc và sau cùng là Diệt Thọ Tưởng Định. Giới thiệu với anh xong các chứng đắc đó bằng phương pháp tà đạo trên xong. Sau khi anh tỉnh dậy, thì anh ấy sẽ trình bày lại cho anh nghe cách thức để tự một mình anh vào đó (Diệt Thọ Tưởng Định). Có cái khuôn mẫu đó (ý của em nói là những cảm nhận khi anh cùng với anh Sơn xuất hồn đó) rồi thì anh tự tu và không có chuyện lộn nữa. Ớn lạnh không?
-- Ớn lạnh!
-- Vậy anh muốn đến nhà anh Sơn để học hay là anh tự làm?
-- Để anh tự làm vậy!
-- Vậy thì em lại về nhà anh và hai anh em mình bàn chuyện này.
-- Tối lắm rồi, thôi thì để hôm khác!
-- Rủi tối nay,... trời sập thì sao?
(còn tiếp)
Mến
"Giáo Lý của tui không phải là để đến
mà Tin theo, mà là để Thực hành"
Đức Thế Tôn

Châm Cứu
Tập nhìn hào quang trường kỳ cho tới khi thấy màu sắc rõ ràng mới thôi. Tốt nhất là ở trình độ Tứ thiền hữu sắc, với màn TV (thiên nhãn) nhuần nhuyễn, khi tập trung cao hơn: Mình sẽ thấy được nguyên hệ thống kinh lạc của châm cứu:
Khi hành giả chăm chú để tìm vị trí chính xác của huyệt đạo thì phần da chỗ đó lóe sáng lên và hành giả thấy rõ những cái ống, cái ống này không phải là dây thần kinh hay mạch máu gì cả mà đúng những đường kinh huyệt mà các sách châm cứu có vẽ lại.
Châm vào điểm sáng nhất hay tối nhất: Bịnh sẽ giảm.
Làm cách này mình sẽ rất mệt vì đã dùng thần thông can thiệp vào nghiệp quả của người khác. Bịnh nhân giảm bịnh thì hành giả sẽ bị đau đúng ngay cái chỗ mà bịnh nhân đau, tuy nhiên cường độ đau đớn ít hơn và ngắn hơn.
Vạn Thắng Công

Vạn Thắng Công có từ thời Phù Đổng Thiên Vương (Với Thế Vươn Vai), rồi qua Đinh Bộ Lĩnh (Với thế: Phi Lâu Diệu Thủ), rồi qua Trần Quốc Toản (Với thế nắm tay bóp bể trái cam) từ đây thế võ này bị thất truyền... cho đến 1966 tại Đồi Cù Đà Lạt, một dị nhân gặp một thằng bé mồ côi và vị này đã chỉ lại cho thằng bé. Mãi đến năm 1990 thì thằng bé sáng tác ra thế “Vổ Tay Thoát khỏi Hồng Trần”.
Vạn Thắng Công còn có tên là “Kim Báo Thần Công”.
Là một môn “Thần Công” thuần túy Việt Nam. Gọi là “Thần Công” chớ không phải là “Nội Công” là vì lý do sau đây:
Nhờ niệm mà chuyển là tà.
Không niệm mà chuyển mới là chính tông.
Người Việt Nam... không ưa những môn “Nội Công” của Tàu vì rất là khó tập. Bởi lý do dễ hiểu là: Không ai biết thực chất... cái Đan Điền nằm chính xác ở đâu trên vùng bụng. Và muốn thành công, khi tập Nội Công, thì phải dồn được khí xuống Đan Điền.
Dồn đúng thì phát kình lực, dồn không đúng thì bị trĩ, bị bất tỉnh, bị đau bụng y như triệu chứng kẹt ruột... Do vậy mà những tay nội công tập trật (số này khá đông) hay bị bịnh là vậy... Tập Thần Công thì không cần biết đến cái đan điền, chẳng cần dồn khí, chẳng cần... niệm cái gì hết mà khí vẫn chuyển... có thể chữa bệnh... ung thư như thằng bé đã nói lại cho đệ nghe vào năm 1991.
Quảng cáo như vậy đã đủ.
Nay thử nhìn anh Vĩnh Song tập 24 giờ môn Vạn Thắng Công. Tất nhiên, đây lại là một guinness nữa của anh ấy. Tụi đệ dùng phấn để ghi lại những giọt mồ hôi của anh ấy trên sàn gỗ. Lúc đầu những giọt mồ hôi nhỏ tại chỗ, nhưng khi anh ấy “Vô Xê” thì những giọt mồ hôi văng rất là xa, rồi khi anh ấy đuối sức thì những giọt mồ hôi không còn văng ra xa nữa. Khi anh ấy té xỉu trong khi quay thân hình vào thế cuối cùng thì anh ấy có những linh ảnh rất là bất ngờ. Anh kể lại: Tui thấy được thế giới Vô Hình... Và tui hiểu được cấu trúc của Bàn Thờ Việt Nam.
Có lẽ là Ngài rơi vào tình trạng này chăng?
Mến.
TB: Có một lần tập Vạn Thắng Công ở ngoài sân khi còn ở Đà Lạt, vào một ngày mây mù: đệ đã phá được một ô vuông rộng lớn những đám mây ở ngay trên đỉnh đầu của đệ.
Cảnh tượng nhìn cũng đã lắm: cả bầu trời Đà Lạt thì xám xịt duy chỉ có một chỗ ngay nhà của đệ thì mây không có và một bầu trời màu xanh dương xuất hiện... theo hình chữ nhật sắc cạnh.
Sạc Pin Nhật Nguyệt
Với những hành giả, sau khi vào Tứ Thiền, vì có nhiều việc phải làm: Độ sanh, độ tử, giải oan, giải nạn và cõng nghiệp cho người khác sẽ làm mất maú và tiêu hao năng lượng rất nhanh. Người lúc nào cũng lừ đừ bơ phờ, mặt mày xanh xao, không muốn ăn.
Trong trường hợp này ngoài việc ăn uống bồi bổ cơ thể và nghỉ ngơi dưỡng sức, tu sĩ cũng có thể dùng những phương thức đặc biệt:

- Phương pháp Sạc Pin Nhật Nguyệt:
Quán màn TV, quán chính mình vào, tay trái cầm mặt trời, tay phải cầm mặt trăng; dùng năng lượng ánh sáng của mặt trời và mặt trăng chiếu vào cái thấy là hành giả, âm dương trong người sẽ được bồi bổ và điều hòa. Việc sạc pin sẽ rất hiệu quả khi mất năng lượng không dưới 50%. Ngoài ra với tu sĩ đã mở được kundalini (nội hoạ), sẽ dùng phương thức ănn ánh sáng.

- Hấp Thu Ánh Sáng:
Tu sĩ có thể khởi động Kundalini, thu nạp ánh sáng vào hệ thống luân xa trong cơ thể của tu sĩ, nặng lượng cuả ánh sáng này rất là thuần khiết sẽ giúp cho cơ thể cuả tu sĩ phục hồi một cách nhanh chóng.
Chữa Bệnh và Phòng Bệnh
Lâu nay tụi mình đều nghe là Thiền định có thể điều hoà được Tứ Đại và do đó mà cơ thể có thể duy trì một phần nào đó sự trẻ trung và hoạt bát của nó. Nhưng cũng chỉ là "tin đồn" và những biểu hiện mờ nhạt (như là trẻ hơn người thường, thông minh hơn, sức chịu đựng dai hơn ...) Nhưng cụ thể là như thế nào thì chưa có ai mà đi vào đề tài này.

Ngày hôm qua, trong dịp châm cứu người chị, tibu khám phá ra cách tự điều chỉnh "Tứ Đại" để mà phòng ngừa bệnh tật cho cả tâm bệnh và thân bệnh.

Quy trình vừa mới làm xong, còn nóng hổi:

Gợi hứng thứ nhất:

Câu đầu thứ nhì của Pháp Cú:
2. "Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo,
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình ".

Gợi hứng thứ nhì:
Nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng và khi tác ý về Tứ Đại thì có kết quả như sau:
- Đất: Nguyên tố của sự sống (hoá chất, tế bào, kim loại, thần kinh, ...)
- Nước: Nguyên lý của sự sống (lực nối kết lại của các chất trong thân thể, sự uyển chuyển)
- Lửa: Biểu hiện của sự sống (sức nóng, và sức lạnh)
- Gió: Sinh động của sự sống (cục cửa, lưu thông, bế tắc ...)
Nguyên tắc:
Hành giả lần lược: "Quán" các Tứ Đại.
Kế đó là tác ý, làm cho nó hoàn chỉnh chừng nào hay chừng đó.

"Quán":
Là nhắm mắt 100% và dùng trí tưởng tượng để mà vẽ ra đề mục. Đề mục này xuất hiện ngay đằng trước mặt, ngang với tầm nhìn và cách xa khoảng một với tay.

Thực hành:

Đất: Quán một hòn bi to bằng mút đủa (cở 3 ly đường kính, d= 3 mm)
Nước: Quán giọt nước có bề ngang cỡ 3 ly (3 mm).
Lửa: Quán Ngọn lửa có bề ngang cỡ 3 ly (3 mm).
Gió: Quán cái cửa sổ có cái tấm màn và tấm màn này đang bị gió thổi và đông đưa tự nhiên. To bằng móng tay cái của mình.

Điều chỉnh:
Đất của tibu nó nứt nẻ và cũ kỹ (do tuổi già ...), tibu tác ý làm cho nó tròn quay lại và trơn láng ra và tô cho nó thành màu vàng.
Nước: Dơ và méo mó: tibu làm cho nó tròn trịa lại và làm cho giọt nước ... cho ra một giọt nước.
Lửa: mờ mờ, ảo ảo... thấy mà ghê: tibu tác ý làm cho nó hoàn chỉnh lại.

Kết quả:

Chưa có gì biểu hiện rõ ràng: Nhưng tư thế ngồi bỗng nhiên vững chải, chắc chắn và trẻ trung ra, người ấm ra và sức sống có chuyển biến tốt đẹp.

Gió thì cái màn cứng đơ, nghiêng cở 45 độ về phiá cái "Thấy": Tibu tác ý làm cho nó dẻo dai và uyển chuyển lại.
Kết quả: Có cảm giác hồi sinh cái gì đó trong thân thể

Hết

Trích từ nguồn:

http://hoasentrenda.com/index.htm

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tu Mật Tông Phật Giáo theo Thầy Hai Lúa Hoa Sen Trên Đá   

Về Đầu Trang Go down
 
Tu Mật Tông Phật Giáo theo Thầy Hai Lúa Hoa Sen Trên Đá
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Tìm hiểu về "Tứ sát” và cách hóa giải
» Bài bình luận của thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh
» Phần mềm VOANET 1.0 - Hỗ trợ học tiếng Anh trên kênh tin tức thời sự VOA News
» Biển xanh vẫy gọi
» Bói tính cách qua sở thích ăn kem

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI . :: Your first category :: HUYỀN BÍ HỌC VÀ TÔN GIÁO :: CÁC TRƯỜNG PHÁI HUYỀN BÍ HỌC VÀ CÁC TÔN GIÁO :: PHẬT GIÁO :: MẬT TÔNG TỔNG QUÁT-
Chuyển đến