CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .
ĐỂ VÀO DIỂN ĐÀN TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC , BẠN CẦN ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY .
CHÚC BẠN AN KHANG THỊNH VƯỢNG VÀ TINH TẤN TRÊN CON ĐƯỜNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC ........
TRUNG TÂM HUYỀN BÍ HỌC ĐÔNG TÂY

CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .

Cùng tìm tòi, nghiên cứu, chia sẻ, thảo luận và thực hành các kỷ năng, kiến thức tâm linh để tạo hạnh phúc cho bản thân và tha nhân ..........
 
IndexPortalCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
Navigation
 Portal
 Diễn Đàn
 Thành viên
 Lý lịch
 Trợ giúp
 Tìm kiếm
Diễn Đàn
Affiliates
free forum


Share | 
 

 Viên quang Bí Kiếp.

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Viên quang Bí Kiếp.   Fri Mar 23, 2012 3:48 pm


Viên quang Bí Kiếp

Ta bình sinh vốn ưa thích tầm tiên phỏng đạo, trải khắp tam sơn ngũ nhạc, quảng giao với danh sỹ mọi nơi. Vào mùa thu năm Bính Thìn, đến chơi đất Tế Nam, lên núi Thái Nhạc, ghé qua cung Ngọc Xu, có vào thăm Phật Đồ trưởng lão. May mắn được ngài hạ cố tiếp đón, coi là tân khách, ân cần khoản đãi, lưu lại tới mười ngày. Khi chuẩn bị hành trang ra về, bỗng thấy chiếc quạt bằng ngọc bích trong đẫy không cánh mà bay. Phật Đồ biết được, bèn bảo ta rằng:
“Dã nạp có thuật mọn này, có thể khiến ngọc Bích trở về nước Triệu”.
Ta khấu tạ và hỏi có diệu thuật gì? Phật Đồ cười mỉm nói:
“Tai nghe không bằng mắt thấy, mời ngài hãy đi theo ta đến nơi thí nghiệm được chăng”.
Thế rồi cùng đi tới nhà phương trượng, ngài mời ta ngồi trên bậc và dặn rằng:
“Đợi sau khi lão nạp thí thuật, dập tắt ngọn nến thì ngài sẽ nhìn thấy một đồng tử trong ánh sáng hiện ra, khi đó trong thất tối có ánh sáng nên phải nhìn cho thật kỹ, không được xem thường”.
Ta nghe nói mà thấy ngạc nhiên vô cùng, không biết đáp sao, chỉ biết vâng dạ mà thôi. Nói vừa dứt, nhà sư đi đến lầu tàng kinh, lấy ra một chiếc bút son, một tờ giấy vuông màu vàng. Kế đó đến giữa thất, đứng thẳng, miệng lâm râm niệm không biết những chữ gì. Một tay cầm bút son, thư nhanh lên tờ giấy vàng. Lúc đó ta còn cách đó hơn hai trượng, lại thêm trời lúc hoàng hôn, nên mắt không thể nhận biết được. Ta định cất chân đến xem, nhưng vừa bước tới thì hai cây nến tắt ngấm, trong thất tối om, không nhìn thấy cả năm ngón tay. Bỗng chốc, từ mặt đất vụt lên một đạo viên quang (ánh sáng tròn), lớn như ngôi sao. Ta ngỡ đó là ánh đèn chiếu rọi vào trong thất, song quanh đầu nhìn bốn phía chỉ thấy mịt mờ, không một chút ánh sáng của đèn lửa. Bèn quay đầu nhìn lại trong thất thì thấy trong ánh viên quang có một mặt người hiện ra. Người đó bị chột một mắt, trên đầu không có tóc, trông tựa như một sa di tên là Tịnh Căn. Đang lúc suy nghĩ, bỗng viên quang phụt tắt, Phật Đồ thắp nến và hỏi ta:
“Khi trong thất tối tăm có nhìn thấy gì không?”.
Ta cứ theo sự thực mà nói lại. Phật Đồ nói:
“Lại phiền ngài ghi nhớ rõ người đã nhìn thấy trong ánh sáng, đợi lão nạp triệu tập tất cả sa di trong chùa này lại, mời ngài chỉ ra người nào giống với người ngài đã nhìn thấy”.
Ta nôn nóng muốn thấy được kết quả của phép thuật bèn gật đầu lia lịa và nói:
“Tuân mệnh”.
Tức thời, Phật Đồ ra lệnh triệu tập tất thảy sa di trong chùa, đốt đèn treo cao, trong thất sáng tỏ tựa ban ngày. Đoạn nổi trống rung chuông, sa di trong chùa cả thảy hơn trăm người nghe thấy bèn kéo tới, chia đứng hai hàng tả hữu. Phật Đồ ngồi lên pháp tọa, nói rõ với họ rằng ông khách đây có đánh rơi mất chiếc quạt. Nay được Bồ Tát hiển quang, hiện rõ ra diện mạo của kẻ lấy trộm. Vậy mời chủ nhân của nó ra đây để nhận rõ mặt. Ta đứng ở sau pháp tọa, tự vấn lòng mình thực không muốn vì một thứ vật mọn mà làm ô danh tới người, nhưng đã ở vào cái thế cưỡi trên lưng hổ, muốn xuống cũng không được nữa. Ta bèn đi tới gần chúng tăng, phân biệt kỹ càng. Khi tới chỗ Tịnh Căn thì thấy mắt bên phải người này bị chột, trán hẹp mi thập, rất giống với người trong ánh sáng. Ta không đừng được mới kêu lên:
“Trưởng lão! Là phép tiên chăng? Người mắt chột mi thấp trong ánh sáng, so với tướng mạo của Tịnh Căn không sai một li”.
Lúc đó Tịnh Căn mặt xám ngoét như tro, không dám cãi lại nhưng cũng không dám thừa nhận. Anh ta quỳ gối lê tới trước pháp tọa, chắp tay, rập đầu liên tục. Ta không nỡ thấy sự sợ hãi đó, mới xin đỡ cho anh ta rằng:
“Ta niệm tình chỉ lấy thứ đồ chơi, còn quần áo, tiền bạc không mảy may động đến, theo luật không đáng khép vào tội ăn trộm, xin hãy thứ cho”.
Phật Đồ nói:
“Thiện tai! Thiện tai! Chuẩn theo lời ông mà ta miễn tội cho, chỉ phạt cho giữ lầu chuông nửa năm”.
Tịnh Căn vui mừng lui ra. Lát sau quay lại, mang chiếc quạt bị rơi trình trước án. Tăng trị ban đánh chuông khánh, chúng sa di nhất tề lui xuống. Phật Đồ đưa quạt cho ta. Ta mới hỏi thần thuật đó ngài học được từ đâu? Có tên là gì? Ta rất hâm mộ, nguyện xin được làm đệ tử, không cần biết bao nhiêu năm tháng mới có thể thành công. Phật Đồ đáp:
“Thuật này tên gọi là Viên Quang. Lão nạp được thân truyền y bát của Long Đam lão sư. Nhưng tiên sư không phải người thủy sáng ra thuật này. Mà có được thuật này là do nghiên cứu ra từ trong Lang hoàn bí kíp. Thuật này có ích với dân sinh, tiên sư vốn muốn truyền ra đời, mệnh cho tôi chép lại ra giấy. Tiên sư chưa tìm được người xứng đáng thì đã lên tiên. Nay ngài có chí học tập, thực là rất tốt, rất tốt”.
Nói thời cầm đèn dẫn ta đi vào Tàng kinh các, chỉ lên một giá sách mà nói rằng:
“Đó tức là Lang hoàn bí kíp, gồm 120 quyển, thuộc vào chân ngôn tu đạo của tiên gia. Thuật Viên quang này trong một quyển cuối cùng. Đó là chỗ thần tiên du hí ở nơi huyễn tượng của Tam muội. Người học phải nên giữ tâm chính đại, luyện tập mười ngày nửa tháng tức sẽ thành công”.
Bèn rút khỏi giá một bản sao và đưa cho ta. Ta như nhặt được vật báu, tức thời xem qua một lượt dưới ánh đèn. Lúc đó đã nửa đêm, không thể xem kỹ, bèn cùng Phật Đồ đóng cửa thiền phòng đi nghỉ. Sáng sớm hôm sau trở dậy, tắm rửa qua loa, rồi từ biệt xuống núi trở về. Về tới nhà, ngày ngày ra công nghiền ngẫm, chỉ qua vài tháng mà thần phù bí chú đã thành thục, có thể sai khiến được cả quỷ quái, hồ li. Sau này có gặp một số thân hữu, ta thao thao bàn đạo, tự khoe mình có tài thần thông, không bói mà biết trước được sự việc. Họ nghe ta nói chỉ bưng miệng cười thầm. Sau đó, ta thực thi vài lần đều có linh nghiệm kỳ lạ, nên các thân hữu mới thấy thán phục.
Trong Lang hoàn bí kíp có chép: Viên Quang mới đầu chỉ là việc thần tiên du hí tam muội. Sau bởi các loài sơn tinh thủy quái tu luyện ngàn năm đều muốn lên tiên giới ăn trộm cỏ tiên, quả tiên. Chư tiên chán ghét chúng bèn phát minh ra thuật Viên quang này. Một khi đã tác pháp thì còn yêu ma nào dám ăn trộm? Dù trốn chạy ở phương nào cũng có thể nhìn ra như trong lòng bàn tay. Bởi vậy mà chúng yêu không dám lên tiên giới ăn trộm nữa. Song lại chuyên gây hại ở chốn nhân gian. Yêu nam thì thu lấy âm tinh, nữ yêu thì thu lấy dương tinh để tẩm bổ cho mình. Ái nữ của Tạ thừa tướng bị yêu quái mê hoặc, ngày càng gầy yếu, trăm loại thuốc cũng không có công hiệu. Tạ thừa tướng rất lo buồn, bèn mời riêng một vị chân nhân đắc đạo đến để lập đàn dâng biểu, tấu cáo với nhà trời, sai thần tướng xuống bắt yêu thì người con gái mới bảo toàn được sinh mệnh. Xét việc cầu đảo dưới hạ giới, tất sẽ thấu tới cung Thượng Thanh. Lão Quân nghe thấy dưới hạ giới có vô số yêu ma nhiễu hại, mà mầm họa đều do khí lượng nhỏ hẹp của chúng tiên. Ngài bèn phát minh ra thuật Viên Quang và sai chúng tiên phải dừng ngay mưu thuật của mình. Chúng tiên mới sáng tạo ra những loại phù chú Viên quang mà người đời cần dùng, truyền xuống nhân thế. Kẻ phàm phu tục tử không thể có năng lực sử dụng những phù chú này là bởi dưới các lời chú, Lão Quân có gia thêm 11 chữ “Ngã phụng Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như luật lệnh”. Ấy nên, khi truyền xuống hạ giới, kẻ chân truyền có được thì có thể không bói mà biết được sự việc, rất thần hiệu. Trở lên, nếu luận về lý thì có phần quái đản, không dám thảy tin là đúng, song cũng không dám chỉ ra chỗ hư vọng trong đó. Nhưng nếu không có sức trợ lực thần bí thì sao có thể nhìn thấu gần xa, dự đoán cát hung linh nghiệm đến như vậy?
Phép cao nhất của Viên quang là Thần quang pháp, không phải người có đạo hạnh cao thâm, tu chân để có được thì không thể học theo. Bởi phép này không mượn tha lực, người thi thuật chỉ đơn thuần sử dụng Đỉnh thượng Viên quang (tức Tiên gia gọi là Xá lợi tử, Tu đạo gia gọi là Nê hoàn cung xuất khiếu, Tục gia gọi là Tam muội hỏa). Chủ thể của nó tròn sáng như gương. Ví như tìm vật bị mất, có thể soi thấy mặt của kẻ trộm. Tìm người bỏ trốn, có thể thấy được dấu vết. Có hỏi tất đáp, có thể biết được quá khứ vị lai. Ngày đêm đều có thể thi thuật. Ban ngày thì xem lòng bàn tay, ban đêm thì ở trong bóng tối hiển hiện ánh sáng.
Thứ tới là Bích quang pháp. Khi thi hành nên chọn một bức vách phấn màu trắng, sạch sẽ, thanh khiết. Những bức vách ở nơi sơn lâu thủy các rất phù hợp để sử dụng. Bởi nó trải từ trên cao xuống dưới, có thể soi tỏ được xa gần. Phép này người nào cũng có thể học được, nhưng ít người có được chân truyền. Nếu không được chân truyền thì phép không linh nghiệm. Thuật này có thể nhìn thấu suốt bốn phương, dự đoán cát hung, toàn nhờ vào thần phù bí chú nên có thể sai khiến được Địa hồ tiên ngũ thông, vâng lệnh đi tra tìm hoặc có thể hỏi được nguyên do của cát hung. Phép này được ghi trong cuốn kinh tên là Quỷ hồ ngũ thông, người thi hành có thể dùng nó để sai triệu quỷ quái, hồ ly đến nghe mệnh (Trong Thỉnh thần chú có Tâm Khuê nhị tiên, tức là Hồ Tiên ngũ thông. Trong Nhị thập bát tú thì sao Tâm chủ về hồ ly, sao Khuê chủ về lang sói). Trong thần chú, tại sao chỉ có Thổ địa chú mà không có Quỷ hồ ngũ thông chú? Bởi vì yêu tinh không dám đến bái yết thiên thần, chỉ dám đợi mệnh ở ngoài, đợi thần Thổ địa vâng hịch mà ra, cùng đi với họ. Khi làm xong việc, người có lỗi thì trị tội, người có công thì thưởng công. Đó là vinh hạnh vô thượng của quỷ quái, hồ ly.
Phép thứ ba là Chỉ quang pháp. Khi hành pháp thì treo một tờ giấy trắng lên trên vách. Ánh sáng sẽ hiện lên trên tờ giấy đó. Thuật này có thật, có giả. Thật là dùng phù chú, không khác chi với Bích quang pháp, cũng có năng lực sai khiến quỷ quái, hồ ly. Giả là chưa có được chân truyền phù chú, không thể sai khiến được chúng. Trên thực tế, không có hiệu lực gì đáng nói. Nhưng tại sao vẫn được người ta tin dùng. Bởi vì trong đó có thủ thuật. Đợi đến chương Biện biện về sự chân ngụy của Viên Quang sẽ bàn đến.

Phép Viên Quang thuộc về một loại thuật số thần bí. Tự nó vốn không cần phải mượn tha lực trợ giúp để hiển hiện thần thông. Tuy nhiên, chỉ có phái Thần Quang đặc biệt đứng riêng, có thể phóng ra ánh sáng trong chỗ đen tối, không cần đến sự phụ trợ của tha lực. Ngoài ra, Bích Quang phái và Chỉ Quang phái đều cần phải dùng đến trợ lực của ánh sáng đèn nến. Tại sao lại như vậy? Bởi vì người thi hành pháp thuật của hai phái đó đều là hạng người tầm thường trong tam giáo, bản thân tuyệt nhiên không có chút thần thông, chỉ cậy nhờ vào thần phù bí chú để sai khiến quỷ quái, hồ ly, thu nhiếp hào quang quan hệ với người. Đó chỉ là một loại ảo ảnh, nếu không có thêm ánh sáng của đèn nến thì không thể hiển thị được. Ví dụ như đốt củi thổi cơm vào ban ngày, thì lửa đó tự đã phát ra ánh sáng, nhưng thổi khói thì không, đến ban đêm mới có ánh sáng. Hai phái Bích, Chỉ thu nhiếp hào quang, cũng là lẽ ấy. Cho nên, thi hành pháp thuật tất phải vào ban đêm để mượn ánh sáng của đèn nến, hiện hình ảnh trên vách tường hay giấy.
Thuật Viên Quang bởi do thu nhiếp hào quang của thế nhân làm thần thông, nên tự lấy tên là Thủ quang thuật. Hoặc gọi là Hồi quang thuật. Ý nghĩa đó rất gần gũi với thực tế, Ví dụ như phép Ẩn thân hay thuật Độn hình đều là thủ danh, chỉ cần nhìn qua là biết được ý nghĩa của nó. Duy có ba chữ Viên Quang thuật – chợt xem vào thì mờ mịt mà không giải thích được. Suy nghĩ cho kỹ thì cũng không thể gọi ra được cái diệu của tên đó. Rốt cuộc nó lấy ý nghĩa từ đâu? Tra cứu khắp kinh, sử, tử, tập cũng không thể khảo được. Duy trong Lang hoàn bí kíp, có bàn khái quát về định danh của Viên Quang. Lời lẽ thần bí, chuyên là định danh của phái Thần Quang. Đại để do gọi quen mà kéo dài tới ngày nay, chưa tiện thay vậy. Xét Bí kíp nói: Lúc Viên Quang sáng tạo, chỉ có hai phép là tìm vật bị mất và tìm người bỏ trốn, không có định danh. Về sau, trải qua sự tăng bổ các phép ứng dụng của người đời mới có tên cố định này. Sự thủ nghĩa là bởi người thi hành pháp thuật hiển hiện ánh sáng tròn trên đỉnh để nhìn thấu gần xa, nên gọi là Viên Quang. Tuy nó thuộc loại thần bí, song truyền đến ngày nay, vẫn không thay đổi cái tên đơn giản đó. Đủ để chứng minh luận thuyết ở trước không phải là hư vọng. Vậy đã gọi tên là Viên Quang, thì khi hiển quang phải lấy Viên (tròn) làm chuẩn. Vậy mà các nhà Viên Quang ngày nay khi hiển quang thì có hình dài, hình vuông, hình tam giác, hình đầu người. Gián hoặc cũng có hình tròn. Tuy nhiên, bảo là không có quang nào không tròn thì ta không tin. Ấy nên, cái tên Viên Quang hợp với cổ mà không hợp với kim. Duyên cách đã lâu, mà nay bỗng nhiên đổi tên. Giả sử phép thuật có linh nghiệm nhưng cũng khó khiến người ta tin được. Tuy nhiên, thói quen của người đời đã ăn sâu, chẳng thể phá bỏ. Người dùng tên mới thì khó có thể chống lại người dùng tên cổ thu được lòng tin của mọi người. Bởi nên mới gây thành cái mối tệ của bọn giang hồ thuật sỹ lợi dụng cổ danh mà dùng thuật giả lừa bịp. Tuy nhiên, tên Viên Quang vẫn là cái tên bất hủ muôn thuở.
Thuật Viên Quang bởi do thu nhiếp hào quang của thế nhân làm thần thông, nên tự lấy tên là Thủ quang thuật. Hoặc gọi là Hồi quang thuật. Ý nghĩa đó rất gần gũi với thực tế, Ví dụ như phép Ẩn thân hay thuật Độn hình đều là thủ danh, chỉ cần nhìn qua là biết được ý nghĩa của nó. Duy có ba chữ Viên Quang thuật – chợt xem vào thì mờ mịt mà không giải thích được. Suy nghĩ cho kỹ thì cũng không thể gọi ra được cái diệu của tên đó. Rốt cuộc nó lấy ý nghĩa từ đâu? Tra cứu khắp kinh, sử, tử, tập cũng không thể khảo được. Duy trong Lang hoàn bí kíp, có bàn khái quát về định danh của Viên Quang. Lời lẽ thần bí, chuyên là định danh của phái Thần Quang. Đại để do gọi quen mà kéo dài tới ngày nay, chưa tiện thay vậy. Xét Bí kíp nói: Lúc Viên Quang sáng tạo, chỉ có hai phép là tìm vật bị mất và tìm người bỏ trốn, không có định danh. Về sau, trải qua sự tăng bổ các phép ứng dụng của người đời mới có tên cố định này. Sự thủ nghĩa là bởi người thi hành pháp thuật hiển hiện ánh sáng tròn trên đỉnh để nhìn thấu gần xa, nên gọi là Viên Quang. Tuy nó thuộc loại thần bí, song truyền đến ngày nay, vẫn không thay đổi cái tên đơn giản đó. Đủ để chứng minh luận thuyết ở trước không phải là hư vọng. Vậy đã gọi tên là Viên Quang, thì khi hiển quang phải lấy Viên (tròn) làm chuẩn. Vậy mà các nhà Viên Quang ngày nay khi hiển quang thì có hình dài, hình vuông, hình tam giác, hình đầu người. Gián hoặc cũng có hình tròn. Tuy nhiên, bảo là không có quang nào không tròn thì ta không tin. Ấy nên, cái tên Viên Quang hợp với cổ mà không hợp với kim. Duyên cách đã lâu, mà nay bỗng nhiên đổi tên. Giả sử phép thuật có linh nghiệm nhưng cũng khó khiến người ta tin được. Tuy nhiên, thói quen của người đời đã ăn sâu, chẳng thể phá bỏ. Người dùng tên mới thì khó có thể chống lại người dùng tên cổ thu được lòng tin của mọi người. Bởi nên mới gây thành cái mối tệ của bọn giang hồ thuật sỹ lợi dụng cổ danh mà dùng thuật giả lừa bịp. Tuy nhiên, tên Viên Quang vẫn là cái tên bất hủ muôn thuở.

Môn phái của Viên Quang tuy chia làm ba phái, nhưng về lý pháp chung quy chỉ là một. Cho nên, việc sử dụng phù chú của ba phái đều giống nhau. Duy có phép Khán quang (xem ánh sáng) thì mỗi phái một khác. Có nhiều loại huyễn tượng hiện ra. Thậm chí, cùng là Kim ngân Viên quang để tìm vật bị mất thì ánh sáng hiện ra của phái Bích Quang và ánh sáng hiện ra của phái Chỉ Quang là khác nhau. Trên thực tế, những loại huyễn tượng đó từ đâu mà có? Có ba thuyết như sau: Thuyết thứ nhất: Thực hành phép Viên Quang thì trước hết phải thỉnh thần. Thần kỳ giáng xuống, tùy chỗ mà hiện ra huyễn tượng để người ta có thể thấy được chân tướng thực của sự việc cần hỏi và cát hung của nó. Cho nên, ánh sáng không giống nhau. Thuyết thứ hai: Ánh sáng có trực xạ (chiếu thẳng) và phản xạ (chiếu ngược), tà chiếu (chiếu xiên), đảo ảnh (chiếu lộn lại) cùng với sự phân biệt các loại: Thiểm quang, hồi quang, chiết quang. Bởi vậy, huyễn tượng của Viên Quang tùy theo quang tuyến sáng tối, cao thấp, gần xa, nặng nhẹ mà đầu ánh sáng phát sinh sự biến hóa. Huyễn tượng cũng theo đó mà biến dịch khác nhau. Thuyết thứ ba: Huyễn tượng trước hết được Khán quang đồng tử trông thấy, theo lệ báo cáo rằng trong ánh sáng có một người con trai, thì lúc đó trong não của mọi người đều hình dung ra một người con trai. Đến khi xem ánh sáng, thì trong mắt mình cũng tựa như có một hình con trai. Đó là thần linh đã tạo cho Khán quang đồng tử một thứ ảo giác để hiển thị một loại huyễn tượng có ý vị, khiến cho người ta suy tưởng mà biết hỏi kết quả của sự việc. Ba thuyết trên đây, đều có lý riêng của nó. Nhờ vào pháp thuật nông hay sâu của người hành phép Viên Quang mà hiển hiện thần thông khác nhau. Tóm lại, huyễn tượng tuy có khác nhau, nhưng vẫn là theo ánh sáng mà đoán sự việc, biết được cát hung. Lẽ đó chỉ là một vậy.
Tại sao Viên Quang lại có năng lực tìm lại vật đã mất, người bỏ trốn, biết được lành dữ, họa phúc? Nên biết rằng, những năng lực phi thường của Viên Quang vốn thuộc về sự linh nghiệm của phù chú. Nếu lời của tôi nói không đủ tin thì xin đưa ra vài ví dụ làm minh chứng. Ví như các nhà địa lý có học vấn, có thể xem đất, chỉ ra ngôi đất này sau khi táng sẽ phát phú quý, ngôi đất kia sau khi táng sẽ tuyệt tự…tuyệt không sai sót. Lại như những kẻ thuật sỹ, có thể suy đoán được hàng năm, tháng giêng tốt, tháng hai bất lợi, lần nào cũng trúng. Đó đều là những việc không hiếm gặp. Chẳng qua năng lực thần thông chưa bói mà biết của các nhà địa lý hay những kẻ thuật sỹ chỉ do nghiên cứu lý luận của cổ nhân mà có được. Còn năng lực của Viên Quang, tất nhiên là cũng do luyện tập thành thục thần phù bí chú thì năng lực mới phát sinh. Ví như vẽ bùa thiếu một nét, niệm chú thiếu một chữ thì tất thần sẽ không giáng, quang sẽ không minh. Thường các nhà Viên Quang luyện tập sơ lậu chỉ thấy bề ngoài mà thôi. Còn nguyên nhân sâu xa bởi tự thể của thần phù thì áo diệu, bí chú mà không thông suốt ý nghĩa thì khó nhớ lâu, nên mỗi khi dùng đến thì sức nhớ yếu kém, dễ mắc sai lầm. Phương pháp khắc phục là phải tàng trữ cổ bản, thường xuyên đối chiếu để ghi chép và đọc thuộc. Như vậy mới không mắc sai sót. Các nhà Viên Quang thường hay chủ quan, khiến pháp thuật không linh là do để phụ nữ không sạch xung phá thần quang. Hoặc nói việc này khó khăn, nếu tối nay không thể hiển quang thì hãy đợi đến tối hôm sau thực hành lại. Đêm đó, phải luyện vẽ thần phù trước, thần chú phải tinh thục, tự nhiên Viên Quang sẽ minh hiển. Qua đêm, phải dọn bỏ hết đồ, không được để người khác nhìn thấy.
Viên Quang có ba phái. Duy người có đạo hạnh mới có thể thông phép Thần quang. Nhưng đã có đạo hạnh thì hà tất phải cần đến Khán quang đồng tử giúp đỡ. Để nhìn được huyễn tượng trong ánh sáng, thì phải biết thần quang tức là ánh sáng xuất khiếu từ nê hoàn cung của người hành pháp. Bản thân người đó sao thấy được ánh sáng trên đỉnh đầu mình, vậy có thể không dùng Khán quang đồng tử được chăng? Bởi vậy, sau khi thi hành pháp thuật, phải dập tắt ắt sáng của đèn lửa thì mới có thể hiển quang được. Như trong phép xem Bích quang, nếu để ánh nến chiếu sáng thì dù có đạo hạnh cao đến đâu thì pháp thuật cũng đành chịu. Đó là nguyên lý xem ánh sáng ở nơi tối tăm. Nhưng xét trong Lang hoàn bí kíp có ghi: Viên Quang của tiên gia không phân biệt ngày đêm. Chỉ cần thư phù niệm chú thì trên đầu có thể phóng ra ánh sáng. Phàm thuộc vào tiên giới đều có thể trông thấy. Người này có thể tự cảm giác được, không cần nhờ người khác xem giúp. Thuyết này rất mực quái đản, người đời không thể học để đạt được. Còn như sự hiển quang của phép Bích quang và phép Chỉ quang ắt phải được sự trợ lực của ánh sáng đèn lửa. Khi bắt đầu có huyễn tượng soi thấu thì nên chọn một đứa trẻ đảm nhận việc xem ánh sáng. Nếu sai lầm dùng phải một đứa trẻ nghịch ngợm, nói bừa trên vách có gì, có gì thì sẽ khiến người thi hành không biết thật giả ra sao và phép Viên Quang sẽ mất công hiệu, danh dự của bản thân bị tổn thất. Nên khi ánh minh quang hiện lên, trách nhiệm ở tại đứa trẻ xem ánh sáng. Cần phải ưu đãi nó thì mới thu được kết quả tốt. Nếu mang theo Khán quang đồng tử thì gia chủ mời đến sẽ không tin. Vậy nên dùng ngay một đứa trẻ trong nhà đó để xem ánh sáng. Các nhà Viên Quang do bị những đứa trẻ đùa giỡn mà thất bại rất nhiều. Đáng phải thận trọng thay!
Nguyên nhân linh nghiệm hay không linh nghiệm của phép Viên Quang phức tạp lạ thường. Có ba nguyên nhân, không phải năng lực của một người mà làm được. Nay thử phân tích như sau: Thứ nhất, người thực hành phép thuật phải giữ cho tâm mình được chính đại, không được phạm vào ba điều răn là gian tà, trộm cắp và sắc dục. Thư phù, niệm chú không được sai sót thì thuật mới linh nghiệm. Thứ hai, người thỉnh mời Viên Quang phải có tâm lương thiện, không có ý niệm hại người, phải theo sự thật mà nêu rõ yếu điểm, mấu chốt của sự việc, thuật sẽ linh nghiệm. Thứ ba là do đứa trẻ xem ánh sáng, thân thể và trang phục phải sạch sẽ, không được nói bừa, không được ương bướng. Khi xem ánh sáng, không được ăn những đồ tanh hôi, thuật sẽ linh nghiệm. Nếu trái lại với ba điều trên, cộng với trong thất ô uế, có hành kinh sau khi sinh của phụ nữ thì thần sẽ không giáng, quang không hiện. Tuy cố thỉnh mời cũng không hiệu nghiệm. Điều tối kị trong phép Viên Quang là huyết quang của phụ nữ. Nếu trong nhà gia chủ có mà không biết để tránh, hoặc con gái hàng xóm không biết tới chơi thì Viên Quang sẽ bị xung phá. Điều này rất thường gặp. Bởi vậy, người nào muốn mời Viên Quang gia thì phải nói rõ từ đầu, không để phụ nữ nhìn thấy. Nên thi hành trong mật thất kín đáo mới tránh khỏi bị huyết quang xung phá.
Trên đây đã trình bày về các ý nghĩa của Viên Quang. Phàm người nào có được chân truyền bí quyết, cố nhiên thuộc về thiên chân bách linh, vượt qua sự vật của thế gian. Song có những kẻ không thoát lòng phàm, càng nhiều lợi ích thì càng nhiều tệ đoan, càng nhiều đồ trân bảo thì càng nhiều ngụy tạo. Càng linh nghiệm thì càng có giả mạo. Khi phép Viên Quang mới lưu hành ở đời, mới chỉ có những bậc cao nhân kỳ sỹ biết được. Người thì tận mắt nhìn thấy sách vở bí ký, người thì may gặp được kẻ cao tay nên sự truyền lại có đầu đuôi, thứ tự. Hoặc khi gặp người thân, bằng hữu mất đồ, hoặc có tai ương bệnh tật, có thể vì họ chỉ rõ nguyên nhân mà không một chút sai sót. Hơn nữa, lại dự đoán được tương lai, soi rõ được quá khứ, phảng phất tựa bậc thần tiên trên cõi đất, không chút tơ hào đến vàng bạc, vinh hoa nên được quần chúng kính trọng, vang dội một thời. Bởi thế, một lũ lưu manh nghe thấy thuật lạ, coi đó là một cơ hội tốt để giở trò lừa bịp, bèn đến cửa lấy lễ xin nhận làm đệ tử. Song giới luật của thuật này sâm nghiêm, không trao truyền cho kẻ dâm tà, phản ác, nên đóng cửa không nhận. Bọn chúng bèn dùng cách trộm cắp, để ý dò xét. Mỗi khi nhà nào có việc mời Viên Quang gia, bọn chúng bèn ẩn nấp xem trộm. Bố trí thế nào? Thỉnh thần ra sao? Làm sao để thỉnh quang, thôi quang? Làm sao để đình quang, thoái quang? Để ý nhớ kỹ, rồi thi hành ngụy thuật. Đề ngoài biển là: “Mỗ mỗ cư sỹ đại Viên quang”. Phàm ngụy thuật khi thi hành lần đầu, thì có thể lừa bịp tiền của, vì người ta còn chưa hay “diện mục của Lư sơn”, chỉ biết có chân, chứ chưa biết có giả. Các nhà Viên Quang thật khi biết được không khỏi lấy làm lạ, mới bèn chú ý quan sát kẻ thi hành phép thuật, thì hóa ra chúng chỉ hiểu được bề ngoài, lại còn chẳng thể thư phù niệm chú, sao có được bích quang, chỉ quang hiển xuất được? Thế mà tất thảy bọn ngụy thuật sỹ tự mình đắc ý, khoa trương phép thuật linh nghiệm. Người thỉnh phép Viên Quang cũng theo đó mà phụ họa, tán xằng là thuật này thần bí. Nguyên nhân do đâu? Ấy bởi những người thường không có năng lực phân biệt chân ngụy vây. Thực tế, ngụy pháp rất dễ phân biệt để vạch rõ. Những kẻ thi hành ngụy pháp có nhiều loại không giống nhau. Hãy chú ý tới bốn điều dưới đây thì chân ngụy có thể sáng tỏ được.
Kẻ ngụy Viên Quang, tất dùng phép Chỉ quang. Giấy đó mang theo bên người. Tệ đoan ở tờ giấy đó mà ra. Mê hoặc lòng tin của mọi người cũng ở tờ giấy đó mà ra. Duy thủ đoạn làm giả, có chia ra cao thấp khác nhau. Kẻ cao tay thì dùng hình bằng chất lân (phốt pho) trong tờ giấy trắng. Để ánh sáng xuất hiện thì dùng khói hương trong lò hun, ánh sáng sẽ hiện ra. Khi chưa hun trên giấy không có dấu vết gì. Nhưng nếu dùng quá nhiều phốt pho, giấy sẽ cháy. Còn nếu dùng quá ít thì sức nóng của khói hương kém, không làm cho ánh sáng xuất hiện được. Phép này, tất phải qua thử nghiệm nhiều lần mới làm được. Loại tiếp theo là dùng hình bằng nước phèn trên tờ giấy trắng. Sau khi khô không có dấu vết gì. Khi làm ánh sáng xuất kiện, thì miệng ngậm nước sạch rồi phun vào, ánh sáng sẽ hiện ra. Một loại nữa là họ dùng ba tờ giấy trắng dán liền nhau, trong đó có một tờ giấy mỏng, có các hình hoa văn chìm xuống. Nhìn bình thường không thể thấy được, khi treo lên trên vách trắng cũng không thấy. Duy có treo lên trên đầu đinh dài, cách tường 1, 2 phân thì sẽ hiện ra. Người xung quanh cũng không để ý tới. Kẻ dùng phép này, tất trên bàn có bày rất nhiều hoa quả, trà rượu. Khi muốn ánh sáng xuất hiện thì đốt một đôi nến ngắn, đặt phía sau tờ giấy cạnh vách bàn. Sau đó liền sai đứa trẻ xem sánh sáng. Tờ giấy sẽ nhờ ánh nến mà hiện ra ánh sáng. Phép Viên quang thật thì phần lớn sử dụng Bích quang pháp. Còn sử dụng Chỉ quang pháp vốn thuần khiết, không thể gây tệ đoan nên rất dễ phân biệt.
Kẻ làm phép Viên quang giả phần lớn tự mang theo đứa trẻ để xem ánh sáng. Có khi người thỉnh phép Viên quang không đồng ý cho mang theo thì chúng tất dùng ngụy pháp, lấy tiền bạc để mua chuộc một đứa trẻ hàng xóm gần nhà người thỉnh phép Viên quang. Dạy chúng cách thức khi vào việc phải xem ánh sáng thế nào. Đến khi chủ nhân sai mang đứa trẻ xem ánh sáng tới đàn, kẻ ngụy Viên quang tất giả vờ xem mặt mũi, lắc đầu mà nói: Mắt của đứa trẻ này không có tuệ khí, không thể nhìn được ánh sáng, cần phải đổi một đứa trẻ khác. Rồi chúng chỉ đứa trẻ đã mua chuộc tới rồi nói với chủ nhân rằng: Mắt của đứa trẻ này có thần thái, sao không dùng nó mà lại dùng đứa kia? Chủ nhân ắt nói với nhà hàng xóm, chúng bèn giả vờ thương lượng với đứa trẻ đó, xin được tạm thời đảm nhiệm làm Khán quang đồng tử, sau khi xong việc sẽ có báo đáp. Đứa trẻ hàng xóm đồng ý. Chủ nhân tất cũng không nghi ngờ gì. Đến khi hiện ánh sáng, thì kẻ hành thuật nói trên giấy hiện ra hình gì thì đứa trẻ cũng nói là hình đó. Đó là bọn hạ đẳng trong đám ngụy thuật vậy.
Những kẻ làm giả phép Viên quang phần lớn luôn tự nâng cao danh giá của mình. Còn những bậc Viên quang thật tuy thân giá cao vời, song chẳng xem trọng tiền bạc. Lũ viên quang giả thường ra giá cao khiến người ta tưởng là bậc tôn quý mà tin dùng. Còn bậc viên quang thật thì chỉ theo tình hữu nghị mà định đoạt, chẳng đếm xỉa tiền bạc có bao nhiêu. Lũ Viên quang giả vốn đã phải mất nhiều tiền riêng để mua chuộc Khán quang đồng tử và các loại thủ thuật làm giả nên không thể không ra giá cao. Song cũng có những kẻ làm giả mà ra giá thấp, điều đó chẳng cần bàn tới.
Những kẻ làm giả phép Viên quang, chưa chắc đã khiến ai ai cũng tin. Nếu gặp phải người nào hơi hiểu thuật này ắt sẽ đưa Khán quang chỉ cho chủ nhân xem qua kiểm nghiệm. Khán quang đồng tử do chủ nhân lựa chọn. Thế là ngụy thuật hết đường thi thố. Phải làm sao đây? Tức thì dùng lời mê hoặc để đánh lừa. Có ba cách như sau: Thứ nhất, Nói dối rằng nhiều lần Thôi quang (làm ánh sáng hiện) nhưng không sáng tỏ. Bèn sai đứa trẻ đứng ở trước đàn, đốt thật nhiều đàn hương để khói bốc nghi ngút xông lên mắt đứa trẻ. Đứa trẻ sợ bị bọn chúng làm quá nên phải nói liều là trên giấy có ánh sáng gì hiện ra. Đồng thời, bị khói xông lên nên rất dễ bị hoa mắt. Khi nhìn lên giấy sẽ thấy hình ảo. Đó là lẽ thường vậy. Dùng lời nói bức bách để làm phép này, nếu gặp phải đứa trẻ nào trực tính không nói ánh sáng hiện ra, thì tất hướng về đứa trẻ mà hét to lên rằng: “Thần quang hiện ra kìa! Nếu còn phân tâm sẽ không nhìn rõ được. Đó là khinh mạn thần linh, chẳng phải trò đùa”. Nói vậy làm đầu óc đứa trẻ mê muội, rồi chỉ lên vách nói: “Trên giấy có hiện ra ánh sáng gì…kìa, mày phải mau nhìn xem, không thấy ánh sáng thì không được nhắm mắt”. Bị bức bách như vậy, đứa trẻ không thể không làm theo lời. Đành phải nói quả có hiện ra ánh sáng gì… Dùng lời nói mê hoặc, nhưng nếu gặp phải đứa trẻ nào được chủ nhân dặn dò trước rằng không thấy ánh sáng thì không được nói bừa. Thì tuy có cưỡng ép nó cũng không được. Kế cùng lực kiệt, chỉ có thể thoái thác rằng trong thất không được sạch sẽ, bị máu của phụ sản xung phá, bởi vậy mà thần linh không giáng, Viên quang không hiện. Tuy không khỏi ê mặt nhưng tiền bạc cũng đã lấy được.

Sưu tầm từ nguồn :
http://buangaivn.com/vanphapthanthong/showthread.php?t=1662&page=2


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Viên quang Bí Kiếp.
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Thác Trắng - Minh Long - Quảng Ngãi
» Danh sách người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh Quảng Ngãi khóa XI
» Quỹ Cựu Học sinh Tư Nghĩa: Tri ân Thầy Cô, Nhớ về Trường xưa, Vì Đàn em thân yêu...
» Quảng Ngãi quê ta- thú chơi : Chim -Cây - Cá - Cảnh
» Thiết bị làm hàng

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI . :: Your first category :: HUYỀN BÍ HỌC VÀ TÔN GIÁO :: ĐẠO GIÁO :: PHÁP THUẬT CỦA ĐẠO GIA-
Chuyển đến