CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .
ĐỂ VÀO DIỂN ĐÀN TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC , BẠN CẦN ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY .
CHÚC BẠN AN KHANG THỊNH VƯỢNG VÀ TINH TẤN TRÊN CON ĐƯỜNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC ........
TRUNG TÂM HUYỀN BÍ HỌC ĐÔNG TÂY

CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .

Cùng tìm tòi, nghiên cứu, chia sẻ, thảo luận và thực hành các kỷ năng, kiến thức tâm linh để tạo hạnh phúc cho bản thân và tha nhân ..........
 
Trang ChínhPortalCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Góc chia sẻ
Thu Nov 09, 2017 6:26 pm by Phạm Hoa

» 10 Túc Duyên của Phật
Thu Nov 02, 2017 11:51 pm by lyquochoang

» NÊN DÙNG LOẠI HƯƠNG GÌ
Mon Oct 30, 2017 9:41 pm by huyền hoàng

» Hiểu thế nào về “huyền bí học”
Thu Oct 26, 2017 1:53 am by quangbongdem

» THẦN LINH HỌC
Thu Oct 26, 2017 1:52 am by quangbongdem

» Khuyên Người Niệm Phật
Wed Oct 25, 2017 10:12 pm by lyquochoang

» Hào Quang
Fri Oct 06, 2017 2:03 am by lyquochoang

» Hạnh Phúc
Thu Oct 05, 2017 4:01 am by lyquochoang

» Danh Lợi và Thiền
Wed Oct 04, 2017 3:03 am by lyquochoang

Navigation
 Portal
 Diễn Đàn
 Thành viên
 Lý lịch
 Trợ giúp
 Tìm kiếm
Diễn Đàn
Affiliates
free forum


Share | 
 

 TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Thu Sep 17, 2015 6:47 am

TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG .

Tu Chân Đồ là một sự kết tụ tinh hoa của Thuật Tu Tiên , nói theo ngôn ngữ ngày nay là Bản Đồ Trường Sinh Học Thân Thể của con người .
Muốn đọc hiểu Tu Chân Đồ , thì người đọc cần hiểu biết căn bản khoa học Đông Phương , tức Âm Dương Ngũ Hành , kinh Dịch , Kỳ Môn Độn Giáp , Đông y , Đạo Học Đông Phương , Đạo Gia và Tỉnh Tọa ......thông qua biểu tượng học của khoa học Đông Phương để giải mả những danh từ chuyên môn của khoa học nhân thể nầy , giúp ích rất nhiều cho sự hiểu biết về giải phẩu năng lượng trường sinh cơ thể học anatomy of psychic , mà ngày nay khoa học cao cấp của thế kỷ 21 là Lượng Tử học Quantum Theory , Lý Thuyết Siêu Sợi Supper String Theory , Lý thuyết Tập Hợp Mờ The Puzzy theory, Lý Thuyết Hổn Man Chaos Theory ...mới bắt đầu sơ khai có thể giải thích những năng lượng Trường Sinh Học của con người và vũ trụ qua danh từ ngày nay là Năng Lượng Đen và Vật Chất Đen .....
Các bạn có thể copy về và in ra hình poster bản to treo trên tường nơi ngồi thiền để tham khảo khi tu học và làm tăng thêm khí trường tốt cho việc thiền định và tỉnh toạ ....
Đây là tài liệu vô giá rất quý hiếm , chúng ta nên phổ biến rộng rải , để mọi người có thể nâng cao trình độ hiểu biết về bản đồ trường sinh học cơ thể nầy hầu giúp ích cho sự thiền định và tỉnh tọa để mở mang trí tuệ , dưởng sinh , phòng ngừa bệnh tật và bài trừ mê tín dị đoan ...., mang hạnh phúc và ấm no cho mọi người VN chúng ta .....

[img][/img]

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 9:20 am


TU CHÂN ĐỒ CỦA LONG HỔ ĐƯỜNG DO LÝ CHÂN DƯƠNG TIÊN SINH CHẾ TÁC
李真阳先生制作的龙虎堂版修真图


[img][/img]

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 10:29 am

Bí tích mật truyền dụng hỏa hầu luyện kim thân

                       by NgocHoangThuongDe .

LÝ THUYẾT VỀ LUYỆN ÐẠO


Bí tích mật truyền dụng hỏa hầu luyện kim thân bất hoại thiêu thân xác hóa ðồng ðen hắc bì phật

CAO thượng huyền vi giáng thế trần
ÐÀI tiền thượng ðế ðộ nguyên nhân
THƯỢNG thiên tá thế kỳ ba dộ
ÐẾ ẩn huyền vi huyện kim thân

       THI BÀI
Ngồi thiền ðịnh tâm trần phất sạch
Ngày cùng ðêm ngó vách luyện hành
Y theo mật pháp luyện phanh
Thiền tham ðịnh tịnh vận hành pháp luân
Hồi quang chiếu chín tuần thấu triệt
Máy huyền vi ráo riết chuyển xoay
Âm dương vận chuyển vơi ðầy
Lục ngôn mật niệm tao gầy kim thân
Tu tịnh luyện diệt lần lục thất
Tham sân si tâm phất tế vi
Thiền tham phãn chiếu cung ly
Hà sa chuyễn ðổi tâm ly cãnh trần
Việc trần thế phất lần cho sạch
Diệt lục trần phá vách tứ tường
Giữ gìn nhiệt ðộ ôn lường
Mật hành tâm pháp chuyển thường pháp xa
Hồi quang chiếu tam tòa rọi thâú
Thấu thậm thâm noi dấu cỗ truyền
Máy trời cướp ðoạt cõ thiên
Hỏa hầu thiêu ðốt khôn kiền thân tâm
Pháp phản chíêu nội tâm tỏ rõ
Thở cùng là nhớ ngó dẫn thần
Hùynh ðình ðóng cữa phục thân
Tâm kinh mật niệm chân thần anh minh
ðắc xá lợi nên hình phật tử
ðắc kim thân gìn giữ tam hoa
Tinh thần khí hiệp tam tòa
Mâu ni kết ðắc hiệu là kim thân
Mình vàng sắt hết phân nhập trượt
Trượt khó vào nhập ðựoc thân ta
Là nhờ tưởng niệm trời cha
Vô vi mật pháp luyện mà kết ðơn
Pháp tam thiên luyện hườn xá lợi
ðắc kim thân diệu dợi cao siêu
ðốc nhâm lưỡng mạch nhị kiều
Bắc cầu ô thước mọc kiều lân qua
Hồng tuyến tử lộ ra ánh chiếu
Chiếu côn lôn rọi thấu khảm cung
Bắc hải thủy hỏa trùng phùng
Âm dýõng hoà hiệp cung trung huỳnh ðình
Nhờ mật pháp ðạo huỳnh truyền lại
Buổi kỳ ba chỉnh lại chân truyền
Qui tông tổng pháp phật tiên
Cùng là thánh ðạo mối giếng long hoa
Vận hà xa hiệp hòa lưởng khí
Kết mâu ni xá lợi ðắc thành
Âm dương phân biệt trược thanh
Hấp hô chuyễn vận khắc sanh ðạo mầu
Triệt khí lại tạo bầu linh dược
ðắc kim thân tạo ðược anh hài
Mâu ni xá lợi liên ðài
Diên ngân kim tháp hình hài anh nhi
Linh châu tử phóng phi quãng ðại
Hồng tuyến quang bữu chí phật ðà
Hồng quang tuyến tử lộ ra
Bổn lai diện mục di ðà ban ân
Luyện tâm pháp luyện thần phục mạng
Luyện kim thân chiếu rạng ánh vàng
Huỳnh ðình chiếu tỏa ánh quang
Anh nhi xá nữ bảo tàng kim thân
Bổn lai hiện chõn thần tỏ rạng
ánh hào quang chiếu sáng huyền vi
bửu châu sáng chói hiệp qui
tam huê kết ðắc anh nhi hiện hình
kim thân chiếu vốn gìn tam bữu
ðạo hạnh thông khắp cã cữu châu
Lục long vận chuyễn vòng cầu
Pháp luân thừõng chuyễn bữu châu lộ bài
Tâm ðình tịnh như lai ánh lộ
Lộ chân tâm ðể ðộ vạn thần
Phục nguyên bổn mạng kim thân
Nhị hình xuất hiện thóat trần ðăng tiên
Luyện ðúng pháp hồng liên kết quả
ðắc liên hoa chiếu tỏa càn khôn
Tam hoa kết ðắc anh hồn
Anh hồn kết ðắc bảo tồn kim thân
Nhờ trui luyện chân thần phục mạng
ðắc kim thân bản dạng anh hài
Mầu vi bí diệu liên ðài
Tam hoa kết tụ hình hài phật tiên
Hỏa hầu ðốt tiêu liền quả nghiệp
Kết kim thân ðể hiệp vô vi
Tinh thần khí hiệp phong phi
Nhị hình siêu xuất phóng phi phãn hồi
Mình váng sắt tô bôi luyện kỷ
Tức kim thân hoàn bị hình thành
Kim thân bất hoại hà danh
Phật tiên chứng ðắc cao xanh phản hồi
Xác phàm bỏ cỡi rồi thất phách
ðắc hồng liên nhẹ tách bồng lai
Tâm minh huệ tánh như lai
ðà la ni pháp cao ðài tổng qui
Hắc bì phật hườn qui quí báo
ðó kim thân bất hoại bất hý
Là nhờ luyện ðặng vô vi
Niếp bàn chính vị huệ từ minh thông
Hồng liên chừng lục thông khai mỡ
Quả nhý lai sáng tỏa cữu châu
Chõn thân bay khắp vòng cầu
Nhý nhiên tự toại thóat bầu tử sanh
ðạo huỳnh khai lập thành buổi cuối
ðộ nguyên căn sớ tối tu hành
Kỳ ba rốt ráo lập thành
Chân truyền mật pháp tam thanh mật truyền
Pháp tam thiên bí truyền ẩn dấu
Ai hiểu căn tầm thấu mà tu
Tam kỳ rốt ráo tuyệt mù
Ngọc hoàng thựõng ðế hộ phù toàn linh
Gắn chí tu thiên ðình trỡ lại
ðắc như lai vô ngại ðạo mầu
Kim thân bất hoại bửu châu
Mình ðồng kim sắt nào ðâu tỏ tường
Khai ðạo huỳnh biểu dòng chánh pháp
ðộ nguyên linh bồ tát lâm trần
ðể lo ðào tạo kim thân
ðể lo luyện ðắc thóat trần hồi qui
ðạo bí yếu vô vi mật khuyết
ðạo siêu quầng dám tiết lậu sao ?
Ngày nay hữu phước thầy trao
Trao mà phải chọn con nào chí tâm
Muốn thóat tục cao thâm lập nguyện
Thọ pháp hành tịnh tiến luyện hành
Tứ thời ôn cố luyện hành
Chí công dồi luyện ðắc thành phật tiên.

Pháp tam thiên bí chỉ tam bộ
Chiếu minh pháp bửu ðàn
10.06.2000
Trương Ngọc An (Pháp quốc) sưu tầm
_________________
Ghi chú:
Quyển Ðại Thừa Chon Giáo là phần lý thuyết ðể công phu tu luyện Nhị Xác Thân, nhờ nó mà khi qui liễu (chết) mới có thân xác hợp với các cõi trên (nguyên tử của cõi Niết bàn). Lý thuyết rất khó hiểu nếu chưa hành, chưa ðược THẦY Chí Tôn Cao Ðài Thượng Ðế chấp thuận cho thọ pháp. Khi ðược keo của THẦY cho thì người hành trước cũng phải xin keo coi THẦY có cho chỉ kiểu không. Cả hai keo ðều thuận ( một ðồng xu lật ngửa và một ðồng xu lật úp).Chữ "dạy" pháp tu luyện chỉ có THẦY hay Cao Ðài Tiên Ông tức Ngô Tiên Ông mới ðược dùng, còn người hành trước không ðược dùng chữ "dạy" ðối với người thọ pháp sau, mà gọi là "chỉ ðạo" hay "chỉ kiểu", tức chỉ cách công phu, trước học thế nào thì chỉ cách hành giống y như kiểu ðã học, ðể huynh , ðệ cùng nhau ðắt về Niết Bàn khi bỏ xác.
Ngoài quyển Ðại Thừa Chõn Giáo ra, THẦY Chí Tôn, Ðức Ngô và chý vi hành giả qui liễu ðã ðắc Ðạo có giáng cõ về sửa cách công phu cho ðúng y nhý cựu pháp, không ðược sai hay sửa kiểu khác.
Bài cõ bút trên Õn do Ðức Cao Ðài Thýợng Ðế giáng ðể dạy chư hành giả tu thiền theo Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, chý vị nào ðã có hành ðọc sẽ hiểu, còn chý vị nào chưa thọ pháp ðọc cũng nhý ðọc cuốn Ðại Thừa Chơn Giáo với nghĩa bóng khó hiểu. Tuy nhiên, quyển Ðại Thừa Chơn Giáo ðã ðược phổ truyền khắp nơi, nhý quyển lý thuyết ðể tu luyện ( giống như quyển Tây Du Ký hay Thất Chơn Nhơn quả ).
Trýớc ðây Ơn Trên không cho phổ biến mà chỉ cho phổ biến nội bộ chý vị ðang tu luyện, ngày nay khắp năm châu, nõi nào cũng có người tu giải thoát, nên việc phổ biến bài Thánh giáo nầy cũng cần thiết chớ không phải tiết lậu cơ bí nhiệm nữa, vì ai không là nguyên căn thì chưa ðược chỉ cách hành. Nếu người ðọc tự chế ra cách thiền theo sự hiểu biết riêng thì sẽ bị hộc máu hay tẩu hỏa nhập ma như ðã xảy ra ở Saðéc.


__________________
Đường Trần thong thả dạo mà chơi.
Học lấy đau thương để biết
đời!
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 10:59 am

Trong các Tôn Giáo chia làm Ba khối lập trường như sau:
1- Tôn Giáo căn cứ theo đức tin Cúng kiến lễ lạc cầu giải thoát.
2- Tôn Giáo căn cứ theo sự thanh tịnh, và tin tưởng vào sự giải thoát là niềm tin mảnh liệt.
3- Tôn Giáo căn cứ Đức tin vào sự Cúng kiến lễ lạc và Thanh tịnh tinh thần cũng cầu giải thoát.
Cả ba trường phái này với mục đích như nhau không sai khác, nhưng có điều đạt được phần tối hậu của việc tu trì giải thoát được hay không đó là một chuyện đáng nói.
Việc thanh tịnh tinh thần cần phải có, khi thanh tịnh tất nhiên con người sẽ có trí tuệ, không cho những tư tưởng sai lầm là chân lý. Nếu chỉ có đức tin không có trí tuệ thì chúng ta dể bị vướn vào hoài nghi, ngộ nhận những phương pháp giả tướng trong việc tu trì rốt cuộc bỏ cả cuộc đời mà không thể đạt được giải thoát.
Có người chỉ mới đọc vài cuốn sách về Đạo Lý, về Thiền hay chỉ biết Thiền qua sách vở, rồi tự cho mình có đầy kinh nghiệm, mang kinh nghiệm này đi dạy lại kẻ khác!!! Kinh nghiệm của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hay tất cả các bậc đạo sư khác chỉ cho chúng ta thấy được mặt trăng, mặt trăng ấy chính là chân lý, và bổn phận chúng ta phải đi đến chân lý bằng tự lực và bằng kinh nghiệm xương máu của mình ,chứ không phải bằng những kinh nghiệm viết trong kinh điển của các bậc Đạo sư!
Kính thưa quý vị! Cánh cổng Thiền nửa kín nửa hở,không kín hết mà cũng không hở hết! mặc dù nó chỉ là phương tiện cho con người đi tới sự giác ngộ. Ngày xưa trong thời Trung Cổ các vị Đạo sư truyền pháp theo căn cơ từng đệ tử chứ không phải truyền hết cho tất cả mọi người, nên Đức Phật cũng phải diệu dụng tám vạn bốn nghìn pháp môn mà độ chúng, tuỳ theo nhân duyên và căn cơ của chúng sanh.
Sau khi trao Khẩu Quyết cho đệ tử rồi, thì hành giả phải hành trì mãi khi nào đạt ấn chứng thì mới có thể gọi là đắc pháp, chỉ đắc pháp thôi chứ chưa đắc Đạo quý vị nhớ rỏ chổ này.
Khi truyền khẩu Quyết cho Đệ tử, các Ngài cũng không hề nói rỏ những kinh nghiệm ấn chứng của mình cho đệ tử biết là vì sao ? Là vì các bậc Đạo sư sợ: Nếu nói ra ấn chứng thì cũng như chúng ta đây, không tu mà biết thì chuyện này rất lạ? Hoặc giả phóng đại những kinh nghiệm của những hành giả đi trước, thố lộ thông tin trong lúc vị đó ấn chứng! Vì muốn ngăn chận những lời nói phiếm luật xem vô tội vạ này mà các bậc Đạo sư đưa ra câu nói :
-Một tất lông rùa nặng chín cân.
Rùa làm gì có lông mà một tất lông nặng đến chín cân? (ý nói là ảo thôi !)
Hoặc nói trấn áp kẻ thố lộ ấn chứng :
-Ngưoi bị ám chướng rồi đó!
Thế là khi bị Tổ hay Thầy quở trách, hành giả không hiểu thâm ý từ ấy khi đạt được ấn chứng cũng không hề dám thố lộ ra, hoặc giả có thấy biết thì cũng không còn chấp vào thấy biết ấy nửa! Và cũng từ đây xem vấn đề này là tối kỵ
không ai dám nói kinh nghiệm ấy ra nửa! Vì nếu nói ra những kẻ không tu lại biết, kẻ không từng trải nghiệm lại hiểu quá trình Tu Thiền và những cảnh giới Thiền, đó là chướng ngại cho những kẻ ấy suốt đời không thể nào tu Thiền được bởi những tư tưởng đầy "hiểu biết mà không cần hành Thiền" của những kẻ ham bàn chuyện phiếm và kẻ nào nghe thì bị "thuốc" chết ngay lúc ấy!
Khi tu tất cả cái gì cũng phải hành, phải trải nghiệm và quán tưởng từ không đến có từ có đến không mới liểu nghĩa vạn pháp, thí dụ :
-Trước mặt chúng ta thấy có "Cái Bàn" thì phải thấy cái "Không Bàn" rồi đi đến cái "Hoại Bàn"!
Thấy như thế mới gọi là thấy tường tận, mới có kinh nghiệm, chứ nghe người nói rồi ta cứ nghe theo, trong khi trí tuệ không có vì không trải nghiệm thì gọi đó là " Mê Tín" vì niềm tin mà không có hành trì không kinh nghiệm thì làm thế nào gọi là chứng ?
Ngày xưa khi Đức Thích ca Mâu Ni giáo pháp cho các tăng chúng Ngài dạy:
BA PHƯƠNG PHÁP ĐƠN GIẢN (THREE SIMPLE METHODS)
-Bố Thí, Trì Giới, Thiền Định. ( Dana, Sila,Bhavana )
Ba phương pháp này rất đơn giản mà chúng ta gọi là Phật
Pháp:
-Bố thí tức từ bỏ mọi mọi sự tham luyến, đóng góp hay hy sanh giúp ích làm lợi cho cộng đồng, việc Bố thí không có ẩn ý vọng cầu báo đáp.
-Giới là rào chắn không để chúng ta bị ô nhiểm bởi những hành động do Tham dục lôi kéo, nhằm nâng cao đức hạnh của người tu lên mãi không giới hạng.
-Thiền định nhằm Thanh tịnh tâm để tăng trưởng trí tuệ, co trí tuệ thì nhận chân được vạn pháp, không còn ngộ nhận trong bất kỳ cảnh giới nào và công việc độ sanh sau này trí tuệ giúp hành giả làm việc chính xác hơn mà không còn bị dính mắc vào nhân quả...
Còn tiếp
Thýa bác Daoky. Theo nhý bác nói thì nhý vậy bác theo sáu Ba la mật của nhà Phật. Tuy nhiên sao cháu thấy bác chỉ nói có 3 trong 6 vậy. Xin bác giải thích rõ dùm.Theo cháu biết thì 6 Ba la mật gồm có:
- Thiền ðịnh Ba La mật
- Bố thí Ba la mật
- Trì giới Ba la mật
- Nhẫn nhịn ba la mật
- Tinh tấn Ba la mật
- Trí hụê Ba la mật

-----------------------
Ba la mật ðýờng tu Trung ðạo
Thành hay không còn ở duyên trời
Ðợi duyên thì biết bao giờ tới
Thà rằng Tinh tấn mãi không thôi.
Chào các bạn!
DaoTran cũng ngứa miệng ðóng góp một chút
Hành Lục Ðộ Ba La Mật, khi ðã thuần thành thì phải bố thí luôn cả 6 phap Ba La Mật, cho ðến mãi về sao này hành giả sẽ không còn thấy Lục ðộ Ba La mật. Vì chính nó là "phýõng tịên" Qua sông chớ vác ðò theo! Ý nghĩa là thế ! Nên lúc bấy giờ Hửu học thành vô học.
-Nhẫn Nhục là hạnh của ngýời tu, vi họ không con tranh chấp với ðời, kiên trì thực hiện cho hoàn mản công ðức.
-Tinh Tấn là thanh loc sàn sảy tinh chất trong tý týởng cho chí bản thân hoàn toàn thanh sạch nhý những bông hoa dâng Phật. Và mỗi ngày tiến ðến hoàn mỹ hõn .
-Trí Huệ là những Kinh nghiệm hành trì ðúc kết mà thành. Khi con ngýời hoàn toàn thanh tịnh thì trí huệ sẽ khởi phát ðó là hiện týợng gạn ðục lắng trong, khi ấy tý týởng không còn bám trụ vào tý kỷ, nên nhìn thấy khắp nhân gian biết ðýợc vạn pháp trong 1% sécnạ
Qua quá trình thành tựu của hành giả trong 6 pháp Ba La Mật rồi phải ði ðến bố thí cả 6 pháp ấy, týởng và hành không còn trụ danh tự, mà chỉ làm theo giác tánh ðó là con ngýời ði vào Thánh Quả .
Vài hàng lạm bàn, chúc quý bạn vui vẻ trên diển ðàn. Trân tro.ng.
DaoTran
Ý NGHĨA CỦA VIỆC HÀNH THIỀN:

Pháp Ðạo là một thể loại hình tý týởng nhằm cụ thể hoá trong quá trình tu luyện tạo nãng lực cho Thân Tâm, nó có ý nghĩa thay thế và loại trừ những nghiệp týởng trọng trýợc, thay vào ðó bằng những tý týởng trong sạch lợi tha, vong ngã, vả lại pháp nào cũng lấy tý týởng làm gốc, sự giao cảm nào mà chãng do tý týởng ? Khi chúng ta thực hành pháp tức là tập trung phát huy những niệm týởng ấy, cũng chính nhờ vào nãng lực này mà các nghiệp Tham sân si dần dần ðýợc thãng hoá, giải thoát mọi sự ràng buộc của tham dục thế trần, nhý giòng nýớc tẩy rửa bợn nhõ và từ ðây nãng lực kết tựu khai mở phần trí tuệ cao cấp.
Khi ðã thấy tất cả các pháp ðều là huyển hoặc là giả týớng, thì bấy giờ hành giả sẽ nhìn cảnh giới chân thật chung quanh một cách minh triết không còn bị lầm lạc. Tâm lý hành giả sẽ thấy nhàm chán mọi hiện týợng ðối ðải của nhị nguyên, không còn bị kích thích bởi những tý týởng dục vọng, tâm trở nên bình thản sinh lòng thân thiện yêu thýõng tất cả mọi chúng sanh rồi phát hạnh nguyện ðộ sanh, hành giả sẽ giúp chúng sanh một cách chân thật, ðồng thời bản thân của hành giả có ðầy ðủ nãng lực và trí huệ thị hiện qua những công hạnh nhý tất cả chý Phật Tiên. Ðó là “ Kim Thân Thị Hiện “. Ðạo không có gì huyển hoặc mà là chân thiện mỹ nó là tính cách ðể hiệp nhất cùng Thýợng Ðế vậy !

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 11:01 am

2-/ TOẠ THIÊN.

Toạ thiền không phải là môn thể dục, cũng không phải cách tạo ra khổ hạnh hay là một phýõng pháp kỷ luật hay là hành xác thân, nhằm ðể tạo một ðẳng cấp trong tôn giáo, không phải toạ thiền ðể trở nên một cái gì, hay chính hành giả có vọng týởng trở nên Thần Thánh Tiên Phật, mà ðiều này chính hành giả cũng chẳng hiểu biết sáng suốt !
Toạ thiền là sự khai mỡ cánh cổng lớn ði vào cõi giải thoát mọi sự buộc ràng thân tâm, nhận biết thế nào là tự tại, thế nào là sự bình yên tâm trí . Toạ thiện là thâu liễm tinh tuý nãng lực và ðạt trí huệ ðể sau cùng ði ðến sự sáng suốt giác ngộ, vì sự giác ngộ không phức tạp, không vọng týởng, không phiền nảo mà là trực chỉ tạo nãng lực ðể “ Kiến Tánh” trở thành sự kiện vĩnh cửu rộng khắp càn khôn , một nguyên lý bất biến, một trí tuệ tốt thýợng hay còn gọi là “ Tâm Hý “.
Toạ thiền trong sự im lặng cùng với những ðức hạnh của nó thì sẽ ðýa hành giả ðạt nãng khiếu:
-Tinh thần sáng suốt nhạy bén hõn trýớc.
-Mở cánh cửa của thế giới mới, do sự hiểu biết hõn.
-Hiểu rỏ ngôn ngữ thông tin của tạo hoá vũ trụ.
-Khám phá ðýợc tiểu vũ trụ trong ta, nghe ðýợc tiếng nói bên trong.
-Trực giác có cõ hội chấp cánh bay.
-Thấy rỏ những cảnh giới xung quanh một cách chân thật hõn.
-Sự an lạc sau khi nắm rỏ quy luật sinh tử vũ trụ.
-Khả nãng tự tại không còn bị ràng buộc .
-Giác ngộ sự giải thoát.
3-/ TAM BỬU HAY THỐNG TAM TÀI.
Phýõng pháp tu luyện chỉ xoay quanh ba món báu ðó là TINH, KHÍ, THẦN.
-Tinh là tinh ba khí huyết trong châu thân.
-Khí là Hạo nhiên chi khí trong Tam Tài (Trời, Ðất, Ngýời.)
-Thần là sự cảm ứng của Thân Tâm.
Sự rèn luyện kết hợp ðýợc ba thành phần ấy ðúc kết nên một thể vật chất siêu tế vi , có thể tạm gọi là Pháp Thân.

4-/ HÀNH CÔNG

Khi ðã chuẩn trang býớc vào hành công có ba ðiều cãn bản là :
-Ðiều Thân: là thân thể ðýợc tắm gội mát mẻ, ngồi ngay ngắn, tý thế oai nghiêm, mắt khép hờ, không cãng thẳng sống lýng phải thẳng gốc với mặt bồ ðoàn hay ghế 90 ðộ.
-Ðiều Tức : Là hõi thở nhẹ nhàn ra vô ổn ðịnh không nhanh không chậm.
-Ðiều Tâm: Là tập trung tý týởng thanh lọc các tạp niệm ( buông bỏ những niệm týởng khác chỉ biết hiện tại ðang hành công những bài pháp nguyên ).
Khi vận hành Tinh Khí Thần nhằm quy hiệp Aâm Dýõng ( hai mạch Nhâm và Ðốc )sinh dòng ðiện nội thể. Sau giờ hành công ðến giai ðọan thiền quán nội thể ( Mật Tâm ). Một pháp ðầy ðủ gồm 3 ðiểm quan trọng : Thiền, Tịnh, Mật nhằm tãng trýởng công lực khi khai mở và liên kết các trung tâm khí lực hay những huyệt vị thân thể của con ngýời chia làm ba phần trong ðõn ðạo gọi tên nhý sau:
-Tiền Tam Ðiền = H ậu Tam Quan.

Thýợng Ðiền = & nbsp; Ngọc Chẩm Quan
Trung Ðiền = & nbsp; Giáp Tích Quan
Hạ Ðiền &n bsp; = Vĩ Lý Quan

THÝỢNG ÐIỀN

7-/-Bách Hội (Mạch Ðốc) còn gọi là Nê Hoàn . Từ mí tóc trán ðo ra sau 5 thốn. Õû trên ðỉnh sọ, chức nãng của nó có liên quan ðến xúc cảm, chu kỳ tính dục, nó ðiều khiển nảo sau và thính giác, sự thãng bằng, nhận thức ánh sáng bằng mắt và bằng da.
5-/-Ngọc Chẩm là phần của Tiểu Não từ trung tâm huyệt Bách Hội ðo xuống phía sau 7 thốn ðó là huyệt, phần não bộ này ðiều khiển hô hấp, nhịp tim và một số chức nãng liên quan ðến hệ thần kinh phản ứng. Khi ðến Ngọc Chẩm tạo ra nhiều hiệu quả , hành giả sẽ có những phát hiện các cảnh giới hồn nhiên và sáng tạo. Nõi ðây là một khu lýu trử ðiển quang thuần khiết, nõi ðây còn ðýợc gọi là “Sinh Tử Huyền Quan Thýợng “
6-/-Huê Quang (Mạch Ðốc) còn gọi là Huyệt Aán Ðýờng, nõi ðây chính là Tuyến Yên các nhà Ðõn Ðạo gọi là Ngọc Ðảnh tức là Chảo Ngọc, nội tuyến có nhiệm vụ ðiều hoà sự phát triển tuyến sinh dục, tuyến thýợng thận, tuyến giáp trạng.
Nó ðiều khiển não trýớc, là cõ quan hiển thị hình ảnh của trí huệ, và thị giác, là nõi ngự trị của tình thýõng và lòng trắc ần, cãn bằng các trạng thái của cõ thể, ý thức thời gian.
4-/-Giáp Tích Quan (Mạch Ðốc) nằm trên Tuyến Thýợng Thận kích thích chất tuỷ trong não tạo ra những phãn ứng miễn dịch cho cõ thể, nó ðiều khiển tuyến thýợng thận quân bình Natri và ðýờng trong máu. Làm hýng phấn những cõ thể bạc nhýợc, làm trẻ lại quả tim bệnh hoạn. ( Không nên tập trung quá nhiều vào nõi ðây vào buổi chiều sẽ làm khó ngủ ).
2-/-Vĩ Lý Quan (Mạch Ðốc nằm ngang rốn ở cột sống hay còn gọi là Mệnh môn là cánh cửa của “cuộc sống”. Huyệt này phát ra Thận khí , thận trái là Aâm , Thận phải là Dýõng. Vĩ Lý nằm chính giửa hai quả thận tạo quân bình khí lực, nõi ðây là “Lò luyện ðan” và chảo là “Ngọc Ðảnh” là phần “Chiết Khảm Ðiền Ly” của bản thể.
1-/-Trýờng Cýờng (Mạch Ðốc) là cánh cửa sinh tử vì nó cho khí vào tuỷ sống lên não ðến hệ thần kinh trung ýõng, nõi ðây tập trung nhiều dây thần kinh của các bộ phận trong thân thể nên trong ðõn ðạo gọi nó là “Sinh Tử Huyền Quan Hạ” . trong phần khai thông Tiểu Châu Thiên, nó dẩn các tinh lực từ Huyệt Hội Aâm sang nuôi dýởng các tế bào và thanh lọc các cõ quan, làm khí vận hành lên tuyến trên. Có hai ống bõm khí quan trọng một là nõi xýõng cụt, hai là nõi ðáy hộp sọ ( Ngọc Chẩm ) cho nên gọi chúng là ( Thýợng Hạ Sinh Tử Huyền Quan ). Làm tuần hoàn máu nhiều hõn, lýợng Oxy càng tãng cung cấp cho não bộ tạo cho cõ thểâ thêm sinh lực.
1-/-Hội Aâm ( Mạch Nhâm ) nó nằm dýới thân giửa lổ tiểu và lổ ðại, nõi chấm dứt nhiều dây thần kinh và mạch máu, nên thýờng có khuynh hýớng bị mất khí nõi ðây, tất cả sinh lực ðýợc khuyếch ðại rồi theo dòng bắn sang Trýờng Cýờng theo cột sống mà lên ðỉnh ðầu rồi xuống giửa hai chân mày ( huyệt Huê Quang ) và rồi lại tuần hoàn ðến Nhâm Mạch nhý trýớc.
2-/-Hạ Ðõn Ðiền, Thần Khuyết ( Nhâm Mạch ) còn gọi huyệt Khí Hải dýới rốn 3 thốn nõi ðây tích chứa khí lực khi hấp thu vào và nén khí ðể dẫn khí ði theo ý muốn của Hành Giả, trong ðõn ðạo xem nõi ðây là “gốc rể” của cõ thể. chúng mang những chất sống còn ði khắp nõi bản thể nhu cầu. Nõi ðây là nõi ðõn dýợc ðýợc hình thành trong giai ðọan ðầu, sau ðó dần chuyễn lên Trung Ðiền và sau cùng là Thýợng Ðiền ðiểm cuối thành tựu ðõn ðạo.
3-/-Trung Ðiền, Trung Khuyết ( Nhâm Mạch ) còn gọi là huyệt Chiên Trung là trung tâm của tim mang ðến tình thýõng khi hành thiền ðến ðây sẽ phát ra ánh sáng xanh dýõng nhý một ngôi sao rất ðẹp, làm mạnh cõ tim nãng lực thiết yếu cho sự vận hành tuần hoàn máu trong cõ thể, làm Phổi hấp thu nhịp nhàng, khí sẽ tràn ngập nõi ðây làm hành giả cảm thấy dễ chịu vì “Tâm bào lạc” thu hút khí mạnh, nhýng không nên tập trung quá lâu sẽ làm khó thở.
4-/-Toàn Cõ ( Nhâm Mạch ) còn gọi là Yết Hầu nõi ðây là Tuyến Giáp Trạng và cũng liên hệ các tuyến khác, khi vạch ðýờng khí từ Huê Quang qua nóc giọng xuống Toàn Cõ . . . tạo những hoá chất cần thiết cho cõ thể.
5-/-Lýởi ( Nhâm Mạch ) là cõ quan cầu nối liền giửa hai mạch Nhâm và Ðốc gọi là Thýợng Thýớc Kều .Ðặt ðầu lýởi lên vòm họng ta có` ba vị thế : Ngoài cùng sau 2 rãng cửa ðó là “ Gió”, kế ðó chính giửa nóc giọng là vị thế của “ Lửa “ trong cùng là “ Nýớc “, nên vì thế lúc mới bắt ðầu hành công hành giả ðể lýởi ở vị thế “ Nýớc “ ðể có tân dịch chảy ra. Khí chảy trong mạch kín nối liền Nhâm Ðốc ( các hài nhi cũng co lýởi nhý thế trong lúc nằm ngủ ).

VẬN HÀNH TIỂU CHÂU THIÊN

1-/ Tựu Thần tại Huê Quang hít vô dẫn khí xuống Ðốc giọng co lýởi ở vị thế “Nýớc” (nối Thýợng Thýớc Kiều) rồi dẫn khí xuống Trung Khuyết ðến Thần Khuyết ( Hạ Ðõn Ðiền ) rồi nhíu hậu môn ( nối Hạ Thýớc Kiều) qua Vĩ Lý rồi lên Giáp Tích chia khí làm 2 ra hai tay ra hai ngón cái rồi thở ra. Hít vào dẫn khí từ 2 ngón tay cái vào lại Giáp Tích rồi dẫn lên Ngọc Chẫm , ðến Nê Hoàn rồi xuống Huê Quang thở ra
2-/ Tựu Thần nõi Huê Quang hít vô dẫn khí lên Nê Hoàn rồi xuống Ngọc Chẫm dẫn xuống Giáp Tích phân khí làm 2 ra hai tay ra hai ngón tay cái rồi thở nhẹ ra. Hít vào dẫn khí ðến Giáp Tích rồi dẫn xuống Vĩ Lý (nhíu hậu môn ) dẫn sang Hạ Ðõn Ðiền lên Trung Khuyết lên Yết Hầu ðến Huyệt Thừa Týõng dýới môi thở ra bằng miệng. Xong một vòng Tiểu Châu Thiên.

VẬN HÀNH ÐẠI CHÂU THIÊN THUẬN

1- Ðịnh Thần nõi Huê Quang hít khí từ mũi xuống Nhân Trung co lýởi ở vị thế “ Nýớc “, khí vận hành xuyên ðốc giọng xuống Toàn Cõ (Yết Hầu ), rồi ði qua Chiên Trung xuống Thần Khuyết (Khí Hải), khí hội tựu nõi Hội Aâm ðáy xýõng chậu rồi khí phân làm 2 ði xuống phía trong của ðôi chân ðến huyệt Dũng Tuyền ( nõi ðây là khởi ðiểm của Kinh Thận lấy khí của ðất lên bàn chân ), rồi dẫn khí lên ðầu ngón chân cái sau ðó thở nhẹ ra.
2- Hít vô cảm thấy luồn khí mát lạnh ði vào 2 ngón chân cái dẫn khí ấy ði theo bên ngoài 2 chân lên huyệt Trýờng Cýờng qua huyệt Vĩ Lý rồi lên Giáp Tích ( Tích Trung ) lại chia hai ðýờng khí vào phía trong cánh tay rồi ra ngón tay cái thở ra. Hít vào từ 2 ngón tay cái dẫn ðến Giáp Tích nhý trýớc rồi sau ðo ù dẫn lên Ngọc Chẫm khí ði xuyên qua Nê Hoàn xuống Huê Quang thở ra. (kết thúc một vòng Ðại Châu Thiên).
Tiếp theo mời các bạn tham khảo một vài bài luận của các bậc Tiên Nhân:
---------------------------------------------------------

KIM TIÊN CHỨNG LUẬN

Lời týạ I

Sách kinh của Tiên Phật nhiều vô số, bậc sõ học làm sao thông suốt hết. Chý ðồng Ðạo thýõng ðời phát tâm cầu Chánh ðạo cũng khõng biết cửa vào!
Ðã không Chân sý lại ít bí kinh, nên Tu sĩ lầm theo khổ hạnh tịch diệt, và bị rõi vào tà thuật. Tình trạng này khắp nõi ðều có. Do ðó nên lòng ta bùi ngùi, mới phát lên ý chí chuẩn cứu. Nhờ ðĩ chẳng bao lâu ta ðýợc gặp Chân truyền thực dụng, chẳng ðợi khẩu truyền diện thọ mới minh. Dĩ là Kim Tiên chứng luận, là Huệ mạng kinh.
Tiếp sau kỷ thuật một nhà ấn lóat, muốn góp phần phát huy Chân truyền, nên ðến gặp ta ðể xin lời tựa, và ðề nghị phân ra ðiều mục, cùng góp phần tham nghị.
Ta nghĩ sức mình có hạn, sao dám luận bàn về cõ ảo diệu của Phật Tiên.
Chứng Luận và Huệ mạng thật là một loại Chân kinh thuần ðốc, ði sâu vào Tánh Mạng.
Tiến tới một tấc ðýợc một tấc, tiến lên một thýớc ðýợc một thýớc.
Tâm noi theo, sức thực hành, ðều chân thực tế.
lòng ta vô cùng hoan hỷ. Là con ðýờng tu luyện, ngày nay ðýợc rõ ràng và rất tốt ðẹp.
Hoa Dýõng Thiền sý cách nay chýa lâu, lại thýờng cùng môn ðệ trong nhóm "Quỳnh Ngọc", ngao du nõi các danh sõn thắng cảnh, nếu ngýời có duyên ắt sớm chiều cũng ðýợc gặp. Há ðâu phải hý vô cao viễn, chỉ khen ngợi mà chẳng ðýợc học sao.
Nếu ðýợc Chứng luận mà chẳng ðýợc Huệ mạng, thì sẽ có sự sai lầm ở Ðại Châu thiên. Còn nếu ðýợc Huệ mạng mà chẳng ðýợc Chứng luận, thì Tiểu Châu Thiên không rõ thấu.
Nay hai kinh hiệp ðính, Tiên Thích giúp nhau ðýợc rõ ràng, cụ thể là một viên ngọc Bích tuyệt mỹ.
Theo dõi từng lời này, ðều là lấy Mạng làm Thể, lấy Tánh làm Dụng, lấy Dýợc làm Kinh, lấy Hoả làm Vỹ.
Mạng tại nhất thời, tánh ở bình nhật. Kinh tại thân ta, vĩ tại tâm ta, Kinh vĩ hiệp thì Thân Tâm thái. Thời nhật tu tánh Mạng tồn. Chẳng mýợn ở ngýời, vì trọn nõi ta ðều ðủ, ðều bẩm thụ nõi trời. Theo dĩ mà nắm lấy cõ vận chuyển của Trời ðể làm tín phù.
Trýớc lấy phần Nhõn ðạo ðể sửa trị lấy mình. Gốc tự sanh thành, vốn vẫn chýa từng mãy lông gắng gýợng.
Vã lại tình ðời nồng thắm thì mãi mê, nên chẳng biết: Mạng quý nghịch, Tánh quý thuận, dýợc ðể bảo trì Tánh Mạng, Hỏa ðể chiến thối quần Âm.
Nếu chẳng biết Mạng lấy gì ðắc Dýợc. Nếu không biết Tánh lấy gì ðắc Hỏa.
Trong nhiều thiên có nói, ðó là Nguyên tinh, Nguyên khí, Nguyên thần, và hội hiệp ngýng tập. Cùng các thuyết: Tiền hậu thãng giáng, thâu phản, huân chýng, cần phải ðáo ðể cứu xét.
Thể Dýợc, hành Hỏa hầu, quan ðộ, cần phải xýõng minh ðến cùng tột.
Tổ sý còn vẽ hai bức ðồ hình Nhâm Ðốc lục quy, cho tu sĩ nýõng theo ðó ðể luyện thành Chõn ðõn chí bửu.
Chân kinh này sáng tợ nhý ðèn lớn. Trí tuệ chẳng cần hõn Nhan Hồi, Mẫn Tử Khiên cũng có thể tâm lĩnh Thần hội.
Còn luận về phần áo lý, thì lời lời tợ nhý Chân kim rực sáng, rọi khắp bảy tầng Vãn ðạo, còn ở thýờng thiệt, thì tiết tiết ðều nêu rõ Thiên nhõn nhất lý, nhất khí.
Tham khảo thật thuần thục hai quyển kinh này, tợ nhý ðã ðọc hết sách nõi chốn Lýõng hồn phúc ðịa.
Một loại Chân kinh ðại nhất, theo ðúng với chính ðạo. Nếu ai ðýợc thấu triệt khác gì Chân hồn ngao du nõi Tây thiên Bồng ðảo.
Tám trãm Ðịa Tiên, ba ngàn Phật sống, chẳng hó trùng phùng diện kiến.
Giờ ðây chỉ cần xem ở ngýời tu luyện siêng nãng hay giải ðải mà thôi.
Các ngýõi muốn gặp phần công ðức, tốt hõn là nên phổ biến rộng rãi hai quyển kinh này, khỏi cần thêm lời phụ ngữ.

Nguyên Niên Ðạo Quang, nãm Bính Ngọ, tiết Mạnh Ðõng, ngày vọng, tỉnh Mân, Trung Chánh Thanh Sõn nhõn, Lýõng Tịnh


LỜI TỰA II

Nền Chánh ðạo ðã bị thất truyền từ lâu!
Từ khi Thế Tôn khai hóa, trí ngu ðồng ðộ, nhýng Tánh Mạng lại riêng truyền.
Về tánh thì xuyển phát, khai mê mà tiệm tu. Về Mạng thì theo linh giải mà chứng quả.
Từ Tây Thiên 28 Tổ, ðến Ðông ðộ sáu ðời, ðều dùng huệ ðãng Tâm khẩu thọ thọ. Tất cả ðều lấy Tánh ðạo và Huệ mạng kiêm tu.
Từ Lục Tổ về sau, tánh pháp thì rộng truyền, còn Huệ mạng lại trong diễn bí. Ngýời thông minh thì ðýợc tý phụ mật ngữ, rồi riêng tu mà výợt lên ngôi Tổ, nên gọi: "Giáo ngoại biệt truyền."
Ngày nay ngýời tu học, không ðắc ðýợc cái Chân chỉ của Huệ mạng, nên chỉ xuyển dýõng tánh pháp, cuối cùng Tánh cũng chẳng ðýợc Chân, lại là thức tánh, tợ nhý mụi mê che khuất, khiến bị sai ngoa, tiếp nhận sai lầm, hoặc lấy Linh giác làm Chân tánh, hoặc lấy Chánh niệm làm Chân tánh. Chạy theo sai quấy, mê mờ lẽ Chân. Mất cả Chân chỉ của Nhý Lai, nên bị manh tu hạt luyện! Thân cãn không ðuợc kiên cố, ðể thành Chân thể của Nhý Lai. Mãi bị hạ lậu, nên mắc sai lầm về chuyển kiếp, mê thất.
còn chi nói ðến ngýời tọa niệm!
Chỉ có Hoa Dýõng Thiền sý, ðýợc thông suốt về cõ tiêu tức, lại ðýợc Chân sý trao truyền Chân chỉ, hội ðồng Tiên Thích, thổ lộ Huệ mạng Chân truyền, tiết lậu minh tinh của Chân Tánh, cứu vớt mê vọng, khai thông trí huệ. Khiến cho những ngýời ngộ ðýợc lập tức thành Phật ở hiện kiếp, khỏi ðoạ tha sinh.
Còn phải tu luyện pháp nào, môn nào, bậc nào?
Phýõng pháp tu luyện này rất giản dị. Chỉ vì ngýời quá mê nên chẳng minh. Chánh lý song tu, và phân biệt Giáo týớng. Chỉ có bậc Trí huệ mới tham thấu nguồn gốc Tánh Mạng, rồi dung hội Pháp Môn và chẳng phân bỉ thử.
Tại Thích giáo, nếu có duyên gặp ðuợc bậc Chân Tiên, mà ðắc ðýợc Chân chỉ Tánh Mạng, tu thành Chân tánh mạng, tức Chân Tiên ðó là Phật.
Tại tiền, nếu có duyên gặp ðýợc Chân tãng rồi ðắc ðýợc Chân chỉ của Tánh Mạng, tu thành Chân tánh thì Chân Tãng cũng là Chân Tiên.
Tiên Thích vốn cùng một Pháp, ðại thì ðồng, tiểu thì khác, vốn thanh tinh tự nhiên.
Giác Výõng, Nhý Lai, Bồ tát là do Ngọc Ðế tự xýng. Ðại Tiên, Phật Tiên. Chứng Kim Tiên cũng do Thế Tôn tự mệnh.
Một ðýờng bằng phẳng, nào có phân biệt hà bỉ, hà thử.
Chỉ vì ta thích theo tông Chân giác, nên mới lội núi, bãng sông, ðến khấu cầu Tịnh Lâm trí thức, không còn ðiều chi thiếu sót. Cuối cùng cũng chỉ là ðề công án, là tham cứu thoại ðầu, là ðả thất, và ðàm luận tọa thiền. Trải qua vài mýõi nãm ðều thành hý thọ!
Chỉ vì không gặp ðýợc Chân sý Huệ mạng nên quên ãn, mất ngủ, niệm niệm không dừng, nên cảm ðến trời xanh.
Ðến nãm Tân Hợi. May ðýợc gặp Thiền sý. Thiền sý thấy ta tâm chí khổ thiết, mới khải Thị tâm can, quyết phá nghi vọng cho ta. Thiền sý tuy có ý muốn chỉ truyền, nhýng lại chýa lộ .
Ta nghĩ Chánh pháp này quá quan trọng, hay là ðiều cấm bí của chý Phật, chứ chẳng phải Thầy ta chẳng từ bi. Nên mới thành tâm phàn hýõng lập thệ, khẩn cầu chí thiết mới ðýợc quyết phá cãn do. Một lời của thầy ban, ta liền ngộ tồn Chân ý.
Nguyên lai cái ðạo thành Phật tác Tổ, ðều ở trong cõ ðộng tịnh thuận nghịch. Có gì khó ðâu.
Bởi thiền sý 30 nãm dý, ðã khổ chí tầm Ðạo, nay mới từ bi chép ra kinh này. Phật xýa chẳng lộ, chính nay mới lộ.Tổ xýa chýa truyền, chính nay mới truyền.
Ðem Huệ mạng, Thọ mạng, Phật Tánh, Chân Tánh, hồ lẫn nhau rồi mới nêu ra.
Là nguyện cho ngýời thành bậc Chánh giác výợt lên Phật ðịa.
Cũng chẳng muốn ðể cho ngýời ðời sau phiền nhọc.
Còn làm cho cha mẹ ngýời kia ðýợc thành tựu, công há nhỏ sao?
Nguyên Niên Càn Long nãm Tân Hợi, tháng Trùng Dýõng, am Linh Ðài, tãng Diệu Ngộ cẩn tự.

LỜI TỰA III

Ðại ðạo vốn không phải ở lời nói. Nếu dùng lời nói ðể giải thích thì bị dễ rõi vào lầm chấp .
Cho nên, ngýời hiểu ðýợc rõ ràng thì rất ít mà những ngýời lầm lẫn nói ra những lời thất tuyền thì nhiều! Há sao họ không bị lạc vào ngõ hẻm.
Cổ nhân xảo dụ nhiều danh từ khác nhau, nên hậu học tìm mãi mà chẳng thấy. Chẳng chỉ riêng một việc khó, là dòm ngó vào cửa Ðại Ðạo, lại còn ở ví dụ mà chấp danh, hay bị mất cả cãn nguyên Tánh Mạng.
Thấy tình trạng ðó mà Tâm ta ðâm lo nghĩ, mới phát Tâm lấy kinh ðể ðộ ngýời và giải thích thẳng.
Chỉ có Hoa Dýõng Thiền sý, từ thuở nhỏ ðã hiếu học, lại còn bẩm thụ ðuợc linh cãn, nuôi chí vài mýõi nãm mà lòng không dụng ðộ tha. Khổ chí chẳng hề giải ðải, mới ðuợc chân chỉ của Hồng và Xung Hý hai vị Chân nhân, mới trýớc tác ra kinh này. Thật là một phýõng tiện tốt ðể gọt sạch da lông, tồn lýu lại cốt tủy, ðem những dị danh xýa tảo trừ rửa sạch, và trực thuyết Tiểu Châu thiên, lập bàn hạ thủ công phu, phát huy những gì tiền Thánh chýa phát, khải thị những gì mà Chý tổ chýa khải. Khiến cho những ngýời khổ chí hiếu Ðạo ðýợc thãng ðýờng rồi lại nhập thất, và sau ðýợc siêu thãng lên bỉ ngạn, phục hýờn vô cực, há chẳng sung sýớng sao?
Sách này tuy xuất phát từ một ngýời trýớc tác, mà là quy tắc cho vạn thế sý giáo.
Ðọc hết quyển này, khác nào ðýợc chiếu từ Thuyền của Tiên Phật sắp chở ngýời qua bên kia bờ Giác.
Một phýõng án tu luyện ðõn giản mà vắn tắt.
Thật là ðiều hạnh phúc cho muôn ðời.
Ngýời thông suốt ðýợc quyển kinh này rồi thì có gì là chẳng hiểu, và sẽ ðýợc thốt nhiên quán thông, ðức tin từ ðây cũng sẽ ðến tột.
Ta từ thuở nhỏ rất mộ ðạo, ðã sýu tập quần thý nhýng chýa ðýợc ngộ nhập.
Ðến nãm Canh tuất mùa xuân, may gặp ðýợc Thiền sý, chỉ trao nửa lời, và trao cho ta quyển này.
Ta mở ra ðọc hết, tự nhiên Tâm mục minh thông, chẳng ngờ tay muá chân quõ, tẩm thấm vậy nhý giá tan nõi trong, ðiều lý thú tợ nhý gần miệng trao truyền.
Phần luận về công pháp của Tiểu Châu thiên, chẳng hề xen lẫn một chữ. Chân ý thì quán suốt cốt tủy của chân kinh. Lão sý còn chẳng tự lấy ðó làm phải, và sợ ngýời ðời sau nghi hoặc mà không ðýợc triệt giải, nên phải dẫn chứng chánh vãn ở trýớc ðể làm bằng. Thật là một quyển sách rất ðộc ðáo, làm sáng tỏ phần thực tế của Chân nhất.
Chẳng trừ sự sai quấy của bàng môn, thật là bậc công thần của Tiên Phật. Có ai dám nói: Chẳng phải.
Trýớc có 5 ðiều khái nhiên xuất phát từ trực thuyết. Sau vài ðiều cũng trong xác thực.
Thiên Phong Hỏa Kinh, là tập họp những bài chánh vãn dụng công theo thứ tự của chý Thánh, rồi mới cýớc chú.
Thiên Tổng Thuyết tiết lộ hết Thiên cõ, khiến cho ngýời hạ thủ ðiều dýợc, và công phu Thể thủ chẳng bị lỗi lầm vì trì tảo.
Lý ðảnh, Hỏa hầu cũng ðều phát minh, và vẽ ðồ hình nói về khiếu diệu hạ thủ, và thể thủ huân chýng cũng ở trong ðó.
Thuyết cố mạng, mục ðích khải thị cho ngýời: Tánh mạng chẳng ðýợc giây phút lìa.
Bài Phú ca, làm sáng tỏ chỗ sở ðắc của Chân ý, và Ðại Tiểu Châu Thiên cũng có ở trong ðó.
Tâm dụng có vẻ khó khãn, là tiết lộ với thái ðộ bình thản và không là chí muốn cho các Tu sĩ ðồng thành Chánh giác.
Sách này chẳng những có ích lợi ðuõng thời, mà cả giúp cho vạn thế hậu học, nếu có duyên gặp ðýợc, khác nào mây tan lộ rõ Thái Dýõng, há chẳng hân hoan và tán thýởng sao?
Ta lấy làm xấu hỗ vì tài nãng ví nhý dùng ống quảng dịm Trời, chỉ mong ðẹp lòng các chý sĩ, ðạt thành chí nguyện chứng công.
Vì lẽ ðĩ nên viết ra bài tựa này.

Thời Càn Long, nãm Canh Tuất Hồng Ðô hậu học Võ hà Ðạo nhân Cao Song Cảnh cẩn tự.

NGHĨA LỆ

Ðinh Tuất Sõn Nhõn tham ðỉnh.

Trong những ngýời Trùng Sang Chứng luận, có ðề nghị tu chỉnh tự, ðể lại cho ðời sau. Nhýng Ðõn kinh chẳng phải dựa vào vãn tự mà thấy Chân ý của Thánh nhân, hà tất phải thêm búa rìu. Vã lại mỗi khi ðến chỗ ngật khẩn, thì cổ Thánh nói ði nói lại ba bốn lần.
Còn trùng ngõn, phục cú, có chỗ nào chýa ðýợc xýõng minh chính là ðể chờ hậu học theo ðó mà ngộ nhập, hà tất phải biến dịch nguyên vãn, ðể làm thức ãn khai khẩu cho ngýời, khiến cho ðợc giả bồi hồi quá khứ.
Nếu muốn ra công tao nhã vãn chýõng thì ðýõng thời chý môn "Quỳnh ngọc", danh liệt thông Nho, chẳng khó nhuận sắc.
Nay quyển này ðều chiếu theo cựu bản, tuy có chỗ bị lầm lẫn nhýng vẫn ðể y, không hề canh cải.
Chứng luận một quyển, là bí quyết tồn Chân. Bình nhật nếu ðã hạ thủ Luyện tâm, tức nên ðiều Dýợc. Tình cờ nếu ðýợc gặp thời chí, cũng chýa nên vội hành công theo Tứ tự quyết, mà chỉ: Ngýng Thần nhập Khí huyệt, tức tức qui cãn.
Lúc nầy không ðảnh khí, không Hỏa hầu, dýợc vật có trong ðó. Trong tám chữ, nếu ðiều hành ðã lâu thì Thần minh thanh tráng, mới có thể hành công theo Tứ tự quyết (Hấp, Ðễ, Tốt, Bế), rồi lần lần vận tam bách thãng giáng Diệu Châu. Nhý ðã ðýợc Nguyên quan hiện nõi Ðảnh khí thì tự thấy rõ Chính Tý thời lai, trong ngồi phù ứng. Lúc bấy giờ mới có thể nói Dýợc, nói Hỏa nói Ðảnh.
Chỗ ðã bị hý hao, thì có công phu Trúc cõ.
Trong quyển nầy ðã phân tách từng ðệ từng thiên là chủ trýõng hoằng dýõng quảng duyệt. Chỉ vì sợ Tu Sĩ lãng xao nên phải nêu lên.
Phàm tạo Ðõn, dýỡng Xá lợi, phải nên tuân theo thứ ðệ cong phu, chớ nên phân biệt rời rạc.
Từ xýa ðến nay, về Lý về Pháp của kinh thý, ðều bao gồm giải thích, ðầu cuối lãn xãn phiền phức, danh mục thảy ðều khác lạ. Chánh vãn và thí dụ thì cặp nhau mà giải thích, nên khó phân thứ ðệ, hóa nên mờ mắt. Do ðó nên các Hiền sĩ ngày xýa có lời than: “Chẳng biết theo chổ nào mà hạ thủ!”
Có ngýời thõng minh nhạy bén, thì výợt ra ngồi quy củ chuẩn thằng, nên có cái lo tẩu lậu. Là do cái lỗi chẳng tuân theo thứ ðệ.
Ta ðã từng quán tập chân kinh, chia ra mýời tiết, kết thành một khối, nếu rành cýõng lĩnh, chép ðủ tỏa vị, khẩu quyết theo từng tiết, kết thành guồng máy, tên gọi: Nhập thất. Lại chia từng khoản hành công, tuần tự tiệm tiến, chẳng hề lấn býớc.
Huệ mạng một quyển, từ xýa ðến nay ít truyền, nay lại phổ biến cộng ðồng, tức là thiêu mất bến Trời.
Nếu Tu sĩ nào dụng công nghiêm túc, nhất ðịnh sẽ có chứng nghiệm, vì có Long Thần hộ.
Có ðýợc quyển kinh này là do hai nhà Tãng là Vân Du và Ngộ Minh, nãm xýa thýờng ðến tỉnh Mân Ðoan tọa bảy ngày ðêm chẳng ãn, chẳng ngủ. Rồi một ngày kia bỏ cả hành trang mà ra ði. Výõng Tử ðến kịp và xin ðýợc quyển kinh này, ðýợc Thích Tử và các ðồng môn quý trọng, vì thấy rất bổ ích cho công phu Thiền Ðịnh, nên chẳng sợ khiển trách, cứ theo lẽ công bình mà phát tâm quản bá.
Ngày nay Thích giáo gần nhý quên mất hạt giống Bồ ðề cuả Nhý Lai ðã lâu. Còn ðạo Huệ mạng lại ít Sý Thầy nói ðến.
Sở dĩ mệnh danh hai chữ này, mục ðích chính là ðể ðánh thức ngýời tu học.
Nếu ðýợc kinh này mà ðọc, khác nào trong ðêm tối gặp ðýợc Thần ðãng. Có ðýợc kinh này phải nên trân trọng.
Thù ðồ mà ðồng nguyên. Tam giáo chung một nguồn. Tam nguyên cùng một cội. Nam Bắc sao chia hai nẽo?
Có duyên sẽ ðýợc gặp, nhập thất ắt có ngày.
Tất cả ðều chỉ cầu, một Tiên Thiên Chân khí, cùng một biển Càn Kim, cùng chủ trýõng khuếch sung Tánh Mạng song tu. Nội ngoại nhất quán chủ yếu là ðến chỗ cùng tột mà thõi.
Huệ mạng thâu quang hóa khí, nếu chẳng phải Kim dịch thì lấy vật gì?
Cho ðến Chứng Luận, khác gì túy trúc Huỳnh hoa, lập tức nội tiếp chýa hề buông bỏ.
Thanh tịnh vun bồi, không hề chống ðối.
Muốn học ðạo, phải học Chân ðạo, Chân ðạo nếu bất thành cũng nên ðýợc ngýời có nhân phẩm cao thýợng, và có thể trýờng sinh bất lão.
Còn học giả ðạo, chẳng những ðýợc hồi ðầu theo nẽo dại, mà cuối cùng có thể mất ði kiếp làm ngýời.
Nếu quyết tâm theo học Chân ðạo, tự nhiên biết Tánh biết Mạng, ðắc Dýợc ðắc Hỏa. Gặp cõ duyên có thể kết Ðõn thành Xá lợi.
Còn học giả ðạo dù cho biết Tánh biết Mạng, ðắc Dýợc ðắc Hỏa, cuối cùng cũng chẳng thành công.
Vô niệm hay khắc chế niệm ðều tại nhất Tâm.
Công phu chính yếu của Nho bao gồm Tam giáo, Thánh nhân lâm phàm chẳng ðổi lời ta.
Cho nên công phu học vấn về: Siêu phàm nhập Thánh là: "Ðệ nhất yếu khắc kỷ khử tự, tiêm hào vụ tận. Sở vi tổn chí hựu tổn, nhất chí ý võ, thân vị Thuần dýõng, tâm dĩ Thuần dýõng. Thân chõn vị phản thiên chân dĩ phản. Tại Dục võ dục, cý trần xuất trần. Xứ xứ bồi Thổ sanh kim.
Thời thời thiên Diên ích Hống, tự nhiên Chân sý ám trung ðiểm ðầu, nhi nhất ðán hốt nhiên quán thông."
Huống chi nõi kinh này, chỉ bày ðã rõ hạ thủ cũng dễ, dầu không Tài, Lữ, Ðịa, một mình cũng áo thể tu luyện ðýợc. Tạm mýợn của Hậu Thiên ðể sống, mà chờ nãm tháng.
Giữ ðýợc chiếc thuyền lại, cuối cùng cũng ðýợc výợt qua bể khổ.
Ðýợc kinh này khác gì ðýợc nýớc Cực lạc hiện ở thân ta, trong gối có bí quyết.
Chỗ hkó khãn là việc: khắc kỷ khử tý.
Sự tôn trọng nền Chánh ðạo là do ðó.
Bảo phát tử nói: Muốn luyện ðõn trýớc phải học Y. thật là phýõng tiện thiện dụ.
Muốn luyện ðõn trýớc phải học về quan, về kinh, về mạch khắp cả Châu thân. Cùng hiểu rõ về ðạo lộ âm dýõng khí huyết. Cùng diệu phýõng của tạo hóa thõng nhau.
Trong sách Nội kinh có vẽ týợng bằng ðồng, ðều ðầy ðủ kinh huyệt.
Pháp luyện Ðõn cũng khõng có bí quyết nào khác. Cũng chỉ có ba: Dýợc vật, Hỏa hầu, Ðảnh khí mà thôi.
Ba vật ấy có Chân có Giả, có Hậu có Tiên.
Thân ngýời ðã bị phá, thì phải tá giả phục Chân, cầu Tiên nõi Hậu.
Thiên kinh vạn luận cũng chỉ phân tách thật rõ ràng ba việc này.
Ðộc giả giữ ðiều ðó ðể cầu nõi trong ba việc, phân biệt Chân nghĩa của Tiên Thiên và Hậu Thiên, cùng giả tá Chân nguyên, thì mi mục cýõng lĩnh tự thanh.
Tu sĩ tu luyện qúy trọng ở vong ngôn, thủ nhất. Nhất ðây chẳng phải là hý danh, mà là thái cực, là nguyên quan, thánh nhân ẩn ngôn nói: Huyền quan nhất khiếu. Gọi là Bảo Nhất. Tu hành Huỳnh ðình ở trong Nhất.
Ngýời tráng kiện thì Nhất này linh. Ngýời ðã suy nhýợc thì Nhất này bị che khuất.
Diên Hống ðều theo Nhất này mà sinh.
Thủ cực tịnh nõi hý võ, thì một khí Tiên Thiên từ hý vô lại.
Mýợn cái hình của Nhất mà luyện cái khí của Nhất. Ðắc ðýợc Nhất thì vạn sự cũng hồn tất. Ðều ám chỉ Nhất là Nguyên quan.
Nguyên quan khẩu quyết trọn ðủ ở ðây.
Ngýời chẳng ôm ấp lấy một niệm này, ðể thủ tụ thành Chân là: Dĩ Hỏa luyện dýợc nhi kết Ðõn, dĩ Thần ngự Khí nhi thành Ðạo.
Cho nên Phong hỏa kinh gọi ðạo này chí giản, chí dị. Chỉ là giáng Chân hỏa ðầu nhập vào khí huyệt.
Thần khí giao hiệp ðýợc lâu, tức siêu nhiên xuất hiện. Nhất này nếu gặp lúc dýõng sinh thì khai, dýõng tán thì liễm.
Thiên cõ mới bắt ðầu phát ðộng, dùng Chân ý trụ tại Tổ khiếu mà chờ. Chờ cho nguyên tinh triền ðộng thì dẫn về bản sở.
Trong thời chánh khai, là lúc Cửu hầu dụng công, là thời Nhị hầu thể Mâu ni.
Ðiều dýợc Ðồ thuyết nói: Khí phát tắc thành khiếu. Cõ tức (dừng) tắc diếu man (mờ mịt).
Lại còn nói: Hỏa tức là dýợc, dýợc tức là hỏa, Dýợc hỏa tức ðảnh khí. Theo chi Lýu là ba, theo nguồn cội chỉ có một.
Một là khiếu này, là Yển nguyệt Lý, là mậu kỷ Thổ, là Tây Nam hýõng. Tên tuy khác nhau, nhýng cũng chỉ là Cốc thần. Cốc thần là cãn cội của trời ðất, là Tổ của hô hấp vãng lai, là tông của âm dýõng hạp tịch, là ðại quan khiếu tu luyện.
Muốn thấy ðýợc khiếu này ngày ngày phải dụng công ðến cực tịnh. Chỉ có Dýợc Lý Hỏa hầu mới là Chân ðích. Cýớp lấy Thiên cõ ðoạt quyền Tạo hóa, hóa sinh các cõi Trời, khai minh ba cõi Ta bà, ðều tại chỗ này. Vô hạn Tiên giới ðều theo từng cấp này mà lên.
Các sách nói về nguyên quan có trên trãm tên, ðều chẳng khiến trực chỉ nguyên ủy.
Nay ðýợc lời Thầy dạy rõ, nên chép thẳng ra ðây, ðể ðýợc dung thông Chân ý với Hoa dýõng Thiền sý, và thuyết Ðiều dýợc, cùng tham chiếu ý chỉ vong ngôn thủ Nhất.
Chỗ rất thích nghi của chánh Ðạo là trýớc phải lo luyện kỷ.
Luyện kỷ trong Chứng luận ðã nêu hết những gì trọng yếu phải luyện. Còn những chỗ khác thì xýõng thuyết Chân ngôn rất rõ.
Chỗ tối nghi là cõ tiếp mạng cấp thiết.
Chứng luận, Huệ mạng mở ðầu ðã nói rõ về thủ thuật. Còn bao nhiêu nữa thì khác gì kim tứ bửu lục (hộp vàng chứa vật báu), nhý Tu thân chánh ấn cũng nói thẳng về chỗ Chân, nhý Tiếp mạng thể dýợc thì không quên lão nói.
Tóm lại, ðều lấy hào cửu Nhị làm ðích, gọi là nhị hầu thể Mâu ni.
Có dýợc thì phải quy nõi về ðảnh. Ðảnh này ở dýới rún một tấc hai phân. Lấy ngýời bằng ðồng của y khoa ðặt nằm ngữa mà ðo. Ðó là thuyết “Tiền thất hậu tam”.
Thýớc ðo thì dùng ngón tay giữa của ngýời cần ðo. Lóng giữa của ngón giữa là một tấc.
Vị trí của khiếu này cao hay thấp là tùy theo ngýời lớn hay bé.
Thuốc ðã ðýa vào ðảnh phải lo phong cố.
Phong là ðóng kín các cửa khẩu. Cố là làm cho thận bền cố, tức vô lậu.
Bên ngoại ðạo dùng loại muối bùn bít kín cái hỏa tiêu tức là Châu thiên, cần phải theo ðúng quy tắc tỉ mỉ, ðể vận hành theo cõ tuần hýờn tấn thối.
Huệ mạng có Lục hầu ðồ, ðã tiết tân Thiên cõ.
Còn các phần khác thì Ngũ Thủ Dýõng Chân Nhân ðã chú thích nõi hai kinh. Lời lẽ biện biệt tinh vi, chúng ta cần nên trịnh trọng. Còn về cõ diệu dụng nhuận dý ở Mộc dục, cũng là trọng yếu.
Nhâm ðốc hai mạch là ðýờng ðạo lộ của Thủy Hỏa. Chỉ có Hoa Dýõng Thiền Sý mới xuyển nổi về Chân ðồ này.
Theo trong kinh thì chýa giải phẩu minh bạch.
Nhýng cũng chẳng nên chấp ðồ mà hại y, mới là ðắt quyết. Ðó là quan tiết khả thủ khẩn yếu.
Còn nhý pháp Quá quan mới là rất bí mật.
Các pháp khác thì phẩm Tiên Phật hiệp tông có nói rõ. Nếu lúc bình nhật giữ Tâm cho thật thuần nhiên, thì lúc lâm thời ít có việc ðáng tiếc.
Lúc này trãm khiếu trong thân ðều mở, ðau ðớn tợ nhý dao cắt, ngàn âm tà ðều chấn ðộng tạo thành âm thanh. Cõ thể tợ nhý rối loạn. Tâm khả chủ trì trong lúc hổn ðộn. Tợ nhý muốn chết.
Nguyên châu ðã có nõi trong, nên phải làm thế nào ðể Châu khỏi thuận ðýờng mà ra.
Tất phải công phu và lập công ðức cho lýỡng tồn.
Cả sáng ðến tối, Thần linh hằng hổ trợ mới có thể khởi hành Thất nhật ðại công.
Chỉ riêng hỏa hầu cổ nhân có nhiều phân biệt.
Còn bình nhật hỏa hầu là lúc dùng cái Lửa mà không lửa, dùng cái Hầu mà không Hầu, ít có nói ðến, tu sĩ cần phải phân ðịnh.
Trong thân ta có Tí Ngọ, Mẹo, Dậu là ngôi tứ chánh. Trong ðó có hai giờ Mộc dục tức là tắm rửa rất chí yếu. Lấy Diên Hống, Vãn,Võ làm bí cõ.
Qua ðýợc bảy ngày này mới quét sạch ðýợc quần âm. Chỉ có một cuộc chiến mà thiên hạ thái bình, chứng phẩm, Nhõn Tiên. Cĩ thể gọi là ðã thành Chánh quả.
Chánh Thanh Sõn nhõn lại ghi tựa.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 11:01 am

KIM TIÊN CHỨNG LUẬN

Mục lục
~ o ~
1.Tựa luyện ðõn.
2.Chánh ðạo thiển thuyết
3.Luyện kỷ trực luận.
4.Tiểu châu Thiên Dýợc vật trực luận.
5.Tiểu châu Thiên ðảnh khí trực luận.
6.Phong hỏa kinh.
7.Hiệu nghiệm thuyết.
8.Tổng thuyết.
9.Ðồ thức.
10. Ðồ thuyết.
11.Cố mạng thuyết.
12. Phong hỏa luyện tinh phú.
13. Thiền cõ phú.
14. Diệu quyết ca.
15. Luận Ðạo ðức xung hịa.
16.Hỏa hầu thứ tự.
17. Nhâm ðốc nhị mạch ðồ
18. Quyết nghị
19. Nguy hiểm thuyết.
20. Hậu nguy hiểm thuyết.




1- TỰA LUYỆN ÐÕN


Hoa Dýõng viết : Dục tu ðại ðạo giả lý võ biệt quyết, võ phi Thần khí nhi dĩ. Tiên tu cùng kỳ Tạo hóa, cứu kỳ thanh trýợt, tắc tinh sanh phýõng khả thám nhiếp. Thứ sát kỳ hõ hấp, minh kỳ tiết tự, tắc thần ngýng phýõng tự luyến hấp, nhiên hậu khả thi, khả thọ, nhi tinh khả hóa.
Thần là Nguyên thần trong Tâm. khí là Nguyên khí trong Thận. Lúc luyện Tinh thì khí ở trong tinh. Tinh Khí vốn là một vật. Cho nên Tào Tổ sý nói: Ðại Ðạo giản dị, chỉ có Thần với Khí mà thôi. Tu sĩ cần phải biết rành cái Ðạo Thần Khí, tức là cái Ðạo tánh Mạng âm dýõng, cho nên nói: Lý vô biệt quyết, chỉ có Thần khí mà thôi.
Tạo Hóa: Là sanh cõ trong thân ta. Ngýời do cõ này mà sanh hình. Tiên phật do cõ này mà thành Ðạo.
Tu sĩ trýớc phải hiểu cho tận cùng cõ Tạo hóa này mới có thể hạ thủ.

Thanh : Là không còn tuớng nhõn, ngã, thiên, ðịa, hồn nhiên, nguyên vẹn nhý thuở Thái hý mờ mờ hỗn ðộn. Lúc bấy giờ một dịng khí Tiên Thiên chýa phát. Ta phải hý tâm mà chờ, cho ðến lúc tinh cực thì có Nguyên khí phát ðộng. Nguyên khí này rất thanh.
Trýợc : Là do tu sĩ khởi tâm tồn týởng tý Lự, kiến vãn tri giác, mà sau ðĩ khí vi dýõng mới ðộng và sanh ra trýợc khí.
Hõ hấp : Là nĩi về cõ vận chuyển của Chân khí phát xuất từ nõi của Tốn. Dụng công thì có thứ tự chuyển biến, chẳng phải chỉ có một. Nhý lúc tinh sanh thì phải dùng cõ hô hấp ðể nhiếp tinh. Lúc Dýợc sinh thì dùng hô hấp ðể thể dýợc. Lúc dýợc ðã quy Lý thì dùng hô hấp ðể phong cố, lúc khởi hỏa thì dùng hô hấp ðể khởi. Lúc Mộc dục thì dùng hô hấp ðể tắm rửa. Cho nên gọi: Tiết tự.
Thần ðã ngýng nhập khí huyệt, thì Thần tự nhiên Luyến Khí.
Thi: Là khí Hậu Thiên, còn gọi là mẫu khí.
Thọ: Là khí Tiên Thiên, còn gọi là khí con.
Tử khí ðã thọ mẫu khí, thì Tinh tự hóa Khí.
Nếu chẳng minh cõ tiêu tức của Mẫu khí, thì tử khí tán phát ra ngoại cảnh, nên tinh khõng thể nào hóa ra Khí ðýợc.
"Dự kiến thế nhân diệt tri Dýõng sinh, nhi luyện tinh bất trụ, Kim Ðõn bất thành giả, giai nhân bất tri kỳ tự nhiên nhi nhiên, dĩ hỗn thể hỗn luyện chi quá dả. Thả quan cổ thõ chi sở tát dụ danh Lý Ðảnh, ðạo lộ, tắc nhõn bị Lý ðảnh, ðạo lộ chi sở hoặc. Du danh Diên Hống Dýợc vật, tắc nhõn nhõn bị diên Hống Dýợc vật chi sở ngộ. Cố quả ðạo dũ hiển, Nhi Chân ðạo dũ hối! Thế nhõn dụ nhi hoặc nhõn cuống nhõn giả chúng hỉ.
Do thử quan chi: Trí giả ðắc Sý nhi minh, ngu giả bị sý nhi ngộ, giai nhân bất ngõ quần thý giản dị chi diệu, nhi chánh thất Chánh Lý."
Ta thấy ngýời ðời học Ðạo cũng biết dýõng sinh, nhýng luyện Tinh cũng khõng trụ, cũng bị tẩu lậu mãi, nhý vậy làm sao thành Kim ðõn ðýợc. Lý do là chẳng biết quy luật tự nhiên nhý nhiên của Thiền công, nên Thể dýợc, Luyện dýợc lộn xộn.
Dýợc sản thì có thời. Phong cố thì có Lý, Châu Thiên có ðộ số. Nhýng ðều chẳng biết nên dụng công lộn xộn, Thể chẳng ra Thể, luyện không ra luyện. Chẳng biết lúc nào Dýợc sản. Chẳng biết Lý ở chỗ nào ðể Phong. Chẳng biết Châu Thiên ðộ số là bao nhiêu. Chẳng biết lúc nào dụng vãn, lúc nào dụng Võ, lúc nào Vãn Võ kiêm dụng v.v…
Cổ thý có ví dụ Lý ðảnh, là cõ sở luyện tinh hóa khí. Phýõng sĩ mýợn ðó mà nói: Nữ ðảnh mà nói Thiêu luyện. Sõ học vì chýa ðắc Chân truyền nên tin theo mà bị lầm lẫn!. Tu sĩ, dù cho cổ Chân chí cũng không tránh ðýợc sự ngộ nhận.
Ðạo lộ: Là hai ðýờng mạch âm dýõng. Nhâm Ðốc trong ngýời, dùng ðể Thể nội dýợc, ðể ðiều hiệp âm dýõng, ðể luyện trýờng sinh, ðể vận Châu Thiên, ðể nối liền hai mạch. Chủ yếu là khai thông con ðýờng này ðể dẫn Xá lợi quá quan.
Dẫn Khí:

Ðốc mạch khởi hành vào giờ Tí, bắt ðầu từ huyệt Ngân xỉ lên Sõn cãn, lên Thiên môn, ra ngọc Chẩm, xuống Giáp tích, rồi xuống Trýờng cýờng là chấm dứt cõ hiển hành của ðốc mạch, theo ðýờng rỗng của cột sống. Ðến ðây thì nó vi hành vào con ðýờng bên trong.
Nhâm mạch khởi hành vào giờ Ngọ, bắt ðầu từ huyệt Hội âm lên quang nguyên, lên Thập Nhị trùng lầu, lên Thừa týõng, ðến Ngân xỉ, rồi trở xuống theo ðýờng trong mà về ngôi cũ.


Chúng ta nên biết: Hai mạch này vận hành nhý trên ðã nói, là vận hành theo cõ vận chuyển của âm dýõng Hậu Thiên nên con ngýời có sanh tử.
Hai mạch vận hành nhý trên là tà cõ, nên Thủy Hỏa ðều tà. Do ðó Càn cung bị tà thủy ô nhiễm gây cho trí tuệ con ngýời bị mất dần dần!.
Còn Tà hỏa thì xuống thiêu ðốt tạng thận, làm cho tuổi thọ con ngýời dần dần giảm thiểu!
Thánh nhân vì thýõng ngýời mới dạy: Phải nghịch chuyển Hà xa, là dạy ta con ðýờng vận Châu Thiên, mục ðích cao tột là ðạt chứng chánh quả trýờng sinh bất tử.
Nghịch chuyển hà xa còn gọi là cõ vận chuyển của Trung Thiên giáo phát.
Thể thủ do cõ nghịch chuyển mà vận.
Châu thiên do cõ nghịch hành mà chuyển.
Suốt thõng ðýợc lý này, pháp này, thì Kim ðõn sẽ thành.
Cổ nhân luyện ðõn, lấy Diên Hống thí dụ cho thần khí, lấy ðýợc vật ví dụ cho Nguyên tinh.
Cũng do ví dụ ðó mà có nhiều ngýời bị ngộ nhận!.
Ngýời mê nghe nói Diên hống bèn lấy phàm diên phàm hống thiêu luyện làm dýợc vật, rồi cho ngýời uống, gọi ðó là thuốc trýờng sinh, cầu phú quý!
Có ngýời bị phá gia, bị tán mạng, thật tội nghiệp!
Các kinh sách tuy có nhiều danh từ thí dụ, nhýng xét về cội nguồn cũng chỉ có; tâm với Thận, Thần và khí mà thôi.
Những kẻ có tà tâm mới lấy dụ ðể làm dụ, gọi là mê dẫn mê. Sở dĩ trong thế giới hiện nay có vô số ngýời mê, nên mới có nhiều tà sý nổi lên dựng thành tà ðạo. Tà ðạo vốn có nhiều pháp thuật khá hấp dẫn, khá lôi cuốn ðuợc số ðông ngýời theo.
Tà ðạo càng thịnh hành bao nhiêu thì Thánh ðạo càng bị mờ tối bấy nhiêu.
Tà ðạo hay ngoại ðạo, chẳng phải chuyên chú mê hoặc Lừa ðời, mà còn cái lầm ở chấp thiên.
Thí dụ: nhý chuyên tánh chuyên dýõng, mà bỏ mạng bỏ âm. Cõ dýõng hay cõ âm ðều bất thành vạn vật.
Vậy thì Thánh ðạo há ðýợc thành sao?.
Con ngýời sống ở thế giới này quan trọng hõn hết là giác ngộ hay không giác ngộ.
Giác ngộ là ngýời trí. Chẳng giác ngộ là kẻ ngu.
Chủ yếu của trí là biết ðýợc lẽ sõng Chân lý của con ngýời.Thí dụ nhý khi mình lỡ phạm phải ðiều lầm lỗi, thì biết và lập tức ðổi liền. Phât, Thánh, Thần, Tiên cũng theo phýõng pháp này.
Có một chủ ðích rất quan trọng của ðời ngýời là phải học, phải tu. Tu học thì phải có Chân sý.
Ngýời gặp ðýợc Chân sý chẳng chỉ là có Trí, mà phải có Túc duyên, có Thiện cãn, có Chí lớn.
Chỉ có bậc Chân sý mới hýớng dẩn cho ta hiểu rành Chánh lý, Chánh pháp và Chánh ðạo, mới giúp ta chánh quả trýờng sinh bất tử.
Còn những ngýời, cũng chẳng chỉ là ngu, mà chẳng có Túc duyên, chẳng có Thiên cãn, chẳng có chí lớn, nên phải lầm gặp tà sý! Lại còn một nguyên nhân là chẳng hiểu chỗ chí diệu giản dị của quần thý, nên không tầm ra Chánh lý. Có lời nói: Có ngýời ðọc hết nãm xe sách, mà còn có một chữ nhất không hiểu ðýợc hết Chân ý.
"-Cố dý dục chánh nhi trực luận. Phú Thiên ðạo giả nguyên hồ Tiên thiên chi Thần Khí. Luyện Tinh giả tắc Khí tại hồ kỳ trung. Luyện hình giả tắc Thần tại hồ kỳ nội. Luyện thời tất minh kỳ Hỏa. Dụng Hỏa tất kiêm kỳ phong. Tồn hồ kỳ Thành, nhập hồ kỳ Khiếu, hiệp hồ Tự nhiên. Nhýợc nãng nhý thử, y thời nhi luyện, tắc Dýợc vật tự nhiên sanh hỉ. Sanh cảnh du kỳ thục lộ hữu chi. Nhýợc bất khởi hỏa quy Lý, nan miễn tẩu thất chi hoạn dã. Nhiên Dýợc vật ký qui Lý, hựu ðýõng tốc khởi Hỏa bứt hành kỳ Châu Thiên. Thoảng bất minh kỳ Hỏa hầu chi tinh vi, tuy hữu Dýợc nhi Dýợc bất nãng thành Ðõn. Bất tri Thái thýợc chi Tiều tức. Bất minh thãng giáng chi pháp ðộ.
Bất thức Mộc dục chi hầu. Bất hiểu quy Cãn chi sở. Nhý thử không luyện, hà ðắc thành kỳ ðạo xả."

Thần là nguyên Thần, Khí là nguyên Khí.
Tiên thiên: Là thời Vô cực, thời Hồng mông vị phán, thái cực chýa chia. Tức là trýớc cõ hổn loạn trời ðất.
Nguyên thần và Nguyên khí là hai thành phần thuộc lãnh vực, thuộc tinh thần của Tiên Thiên.
Tiên Thiên trong lãnh vực Thần khí, cụ thể Thần là Chân ý, Khí là Chân dýợc.
Chân ý là kết quả của Cùng lý. Chân dýợc là kết quả của công phu Ðiều dýợc.
Nếu chýa ðạt ðýợc kết quả Cùng lý thì không có Chân ý. Chân ý là vị Chân sý trong ngýời của ta.
Có ðýợc Chân sý, có ðýợc Chân dýợc, thì lo gì Chánh quả không thành.
Tinh là do khí thuận hóa. Khí là do Tinh nghịch luyện. Có ðýợc Chân tinh là do tâm cực tịnh mà Thận ðộng nên sinh ra, còn gọi là Chõn ðõn. Còn nếu Tâm và Thận ðều ðộng thì sinh ảo ðõn.
Có Tinh và có Khí, là do ở cõ thuận hóa và nghịch luyện. Tinh với khí là một. Cũng nhý nýớc và hõi nýớc vốn không hai. Nýớc bốc lên thành khí, khí ngýng tụ lại thành nýớc. Còn nýớc và Tinh thì còn lậu. Tinh và nýớc ðã tận huân hóa, thì lấy ðâu mà lậu. Thánh nhân dạy ta dùng Chân hỏa ðể huân hóa thành phần Tinh cho trọn vẹn, thì thành Sõ chứng.
Luyện hình là luyện thành phần Khí ðã hóa ra hữu hình, hay Khí này có mang phần âm. Tức là luyện phần hữu hình ðó thành vô hình, và luyện phần âm ðó trở nên dýõng và thành Thuần dýõng.
Sở dĩ thành phần Khí này hóa ra hữu hình là do Thần thuận hóa theo cõ biến hóa âm dýõng của Hậu Thiên. Thần vốn thuộc dýõng. Khí vốn thuộc âm. Trong âm có dýõng. Nhý vậy thì trong Thần cũng có Khí, trong khí cũng có Thần.
Luyện thần: là cái thời kỳ hạ thủ công phu. Thí dụ nhý thời Thể thủ có bốn thời: Là thời Thể thủ, thời huân chýn, thời Phong cố và thời vận hành.
Còn vận Châu Thiên thì có thời Hành thời Trụ, thời Khởi thời Chỉ.
Thời Châu Thiên còn chia ra Ðại châu Thiên và thời Tiểu Châu Thiên.
Thời còn có thời Tịnh chiếu, thời Mộc dục. Tóm lại mỗi một công phu trong cõ Tiền ðịnh ðều có thời. Chủ yếu là Chân thời, là thời nội bất ðộng mà ngoại ðộng.
Thời còn có Thời hýợt Tí thời cố ðịnh, và huợt tí thời bất ðịnh.
Mỗi một thời công phu có cõ dụng Hỏa khác nhau. Thí dụ nhý thời Tiểu Châu Thiên, có vãn hỏa và Võ hỏa, có Vãn Võ ðõn dụng, có Vãn hỏa kiêm dụng.
Hỏa còn có Quân hỏa, Týớng hỏa và Dân hỏa. Lại Còn có Chân hỏa, tà hỏa.
Có Chân hỏa mới huân hóa tất cả các phần âm trong ngýời hóa ra dýõng, rồi huân hóa cho thành Thuần dýõng, thì thành Ðạo, Dịch lý gọi: Càn Càn bất tức.
Thành phần Hỏa ðĩnh một vai trò trọng yếu trong công phu Thiền ðịnh, nên Tu sĩ cần phải Cùng lý ở Hỏa. Chẳng nên xem thýờng sẽ có nguy cõ.
Dùng Hỏa phải có cõ tiêu tức Tốn phong. Thí dụ nhý ngýời thợ rèn dùng hai ống bể ðể tạo ra gió, quạt thổi cho lửa bùng lên.
Công phu dùng Hỏa ở ðây phải dùng khí hõ hấp làm gió, lửa và gió bức Chân khí vận chuyển. Nhýng dùng cõ hô hấp trong công phu Thiền ðịnh, Chân ý không ðýợc nghĩ về hô hấp, nếu nghĩ ðến thì mắc Týớng hữu vi.
Công phu Thiền ðịnh phải ðặt trọn lòng Chí thành. Tu sĩ phải trọn ðời giữ ðức chí thành. Tức là trong lòng không còn một hào li hý ngụỵ, thì công phu tu luyện mới mong thành công.
Thần phải thýờng trụ nõi Tổ khiếu. Lâu ngày thì Thái cực hiện, gọi là Huyền quan xuất hiện.
Ðức Lão Tử nói: Cốc Thần bất tử. Là nói về chỗ này, chỗ nhập hồ kỳ Khiếu.
Dịch Lý cĩ nĩi: Vô cực Nhi thái cực. Là nói về Tổ khiếu Huyền quan xuất hiện nõi cung

KIM TIÊN CHỨNG LUÂN CHỨNG

Học cũng chẳng ðúng pháp ðộ của Hỏa, ðâu ðýợc thành Ðõn, cho nên phải hiểu rõ tất cả.
Thái thýợc là cõ hô hấp vãng lai. Cổ nhân thí dụ Tốn phong. Thãng giáng do ðây mà vận. Chẳng ðýợc gío này thì vận chuyển không ðúng pháp.
Tiểu Châu Thiên ðều nýõng theo Tốn Phong của Thái thýợc, ðể làm quyền bĩnh cho Kim ðõn.
Thãng giáng là cõ vận hành cho Châu Thiên có ðộ số. Thýờng thýờng ngýời tu học chẳng biết ðộ số của thãng giáng nên Ðõn không kết.
Mộc dục là cõ sanh sát của Mẹo Dậu, cho nên Ðình tức cũng là hầu Mộc dục.
Quy cãn là quy về khí huyệt, về bản vị.
Không luyện là chẳng hiểu rõ Chân quyết của Chánh ðạo. Chánh ðạo là ðạo Tánh mạng.
Không luyện là chỉ tu Tánh mà không luyện Mạng, do ðó nên có lời nói: Hiền khổ tịnh không hay ngột tọa ngoan không. Tu cĩ tu cũng vô ích.
Ðại phàm lâm cõ chi thời tất tu sýớng minh kỳ Thần, mãnh dũng kỳ chí, lập ðinh Thiên tâm chi chủ tể, bồi hồi bức tấu chi vận chuyển, nội cổ Thác thýợc chi tiêu tức, ngoại y ðẩu bỉnh chi tuần hồn. Nhý thử Thần Khí týõng y nhi hành, týõng y nhi trụ, Tắc Châu Thiên chi tạo hĩa võ bất nghi.

Thời: Càn Long Canh Tuất xuân, Truyền Lô Liễu Hoa Dýõng Tự, ý Quán thành chi, Khiết Výõng cổ miếu trung.
Lâm cõ chi thời: Là ðến lúc hạ thủ cõng phu, nhý Thể thủ, huân chýng… Tối kỵ hôn mê tán loạn.
Lúc lâm thời hạ thủ công phu, tinh thần phải tinh tấn và dũng mãnh. Tự mình tu, tự mình thành, không thể nýõng tha hay nhờ ngýời khác tu giùm. Lập tâm kiên cố nhý kim cýõng mới výợt qua 81 cõ khảo thí.

Thiên tâm là Trung huỳnh, ở chính trung của trời ðất. Còn một tên nữa là Thiên can, là ðẩu bỉnh. Tại nõi trời là Thiên tâm, ở nõi ngýời là Chân ý. Trung can nếu thất Chân ý, cũng nhý thân bị mất quân.

Bức tấu: Là Chân ý bồi hồi vãng lai, tợ nhý trục xe chuyển vận. Lão Tử gọi: Tam thập lục, cọng nhất cốc.
Thác thýợc: Là thí dụ cõ hô hấp, tợ nhý hai ống bể của thợ rèn. Trong cõ thác thýợc có cõ vi vi hô hấp, gọi là Tiêu tức. Châu Thiên Hỏa hầu ðều nuõng theo Chân tức, lấy hô hấp

THÍCH NGHĨA CHÍNH VÃN

Tu theo Ðại ðạo, nhớ một bí quyết: Chỉ có Thần Khí mà thôi.
Trýớc phải hiểu về cõ tạo hóa và biết có ðục có trong, thì Tinh sanh mới có thể hạ công Thể thủ.
Tiếp ðến phải minh về cõ hô hấp, lại phải suốt thông ở tiết tự công phu, thì Thần ngýng Khí mới tự luyến hấp.
Sau ðó hai khí Tiên Thiên và Hậu Thiên phải khế hợp, thì tinh mới hóa thành Khí.
Ta thấy ngýời ðời cũng biết dýõng sinh, nhýng luyện Tinh mà Tinh chẳng trụ, Kim ðõn chẳng thành, ðều do chẳng biết quy luật Tự nhiên phải nhý vậy. Cũng ðều do cái lỗi Thể lầm Luyện lộn!
Còn về cổ thý, vốn ðã tạo ra nhiều tên thí dụ, nhý Lý ðảnh, nhý Ðạo lộ, rồi có kẻ mýợn Lý ðảnh, ðạo lộ mà mê hoặc ngýời. Thí dụ Hống, Diên, Dýợc vật, cũng có kẻ mýợn ðó mà phĩnh phờ ngýời.
Cho nên hễ giả ðạo càng sáng, thì Chân ðạo càng tối.
Ngýời ðời mýợn thí dụ mà mê hoặc ngýời, lôi cuốn kẻ mê ðể trục lợi ðồ danh, kể ra cũng vô số!
Theo ðó mà quán xét: Bậc Trí thì ðýợc gặp, Chân sý thì hiểu rành Chánh ðạo.
Còn kẻ mê si, phải gặp tà sý, mà bị lỗi lầm. Ðều do chẳng hiểu ðýợc phần dạ lý của quần thý giản dị mà phải mất ði phần Chánh lý.
Cho nên chính ta muốn nói thẳng lên, gọi là Trực luận.
Tiên ðạo nguyên cõ là Tiên Thiên Thần Khí. Lúc luyện Tinh thì khí ở trong Tinh. Lúc luyện hình Khí thì Thần ở trong hình khí.
Lúc luyện phải rành về Hỏa, dùng Hỏa phải dùng lấy Gió.
Chủ yếu là phải bảo tồn ðức Chí thành, mới có thể quy nhập về Tổ khiếu, và khế hạp với luật Tự nhiên.
Nếu ðýợc nhý vậy, rồi nýõng theo thời mà luyện thì Chân dýợc tự nhiên phát sinh.
Chân dýợc ðã sinh, Tu sĩ phải nhớ nó có con ðýờng thực lộ. Nếu chẳng khởi Chân hỏa mà ðýa nó về Lý, thì khởi khỏi có cái lo tẩu thất.
Lúc Chân dýợc ðã quy Lý, phải nên gấp khởi Chân hỏa, mà bức hành Châu Thiên. Thoảng nhý chẳng minh tận tinh vi của Hỏa hầu, tuy có Chân dýợc cũng chẳng tận tinh vi của Hỏa hầu, tuy có Chân dýợc cũng chẳng thành Kim ðõn. Chẳng biết cõ Thác Thýợc và Tiêu tức Chẳng minh pháp ðộ thãng giáng! Chẳng biết rành hầu Mộc dục! Chẳng hiểu chổ sở tại ðể quy cãn.
Nếu nhý vậy thì phải bị không luyện, làm sao thành ðạo ðýợc.
Ðại phàm lúc lâm cõ, tất nên thõ sýớng ở Thần, dũng mãnh ở Chí. Lập ðịnh Chân ý ( Thiên Tâm) làm chủ tể.
Luận hành cõ vận chuyển nhý trục xe. Trong thì cổ vũ cõ Tiêu tức của Thái Thýợc. Ngồi thì nýõng theo chuổi Sao mà tuần hồn. Ðýợc nhý vậy thì Thần khí nýõng nhau mà hành, nýõng nhau mà trụ, làm sao cõ Tạo hóa chẳng ðýợc khế nghi./.

CHÁNH ÐẠO THIỂN THUYẾT
Tận Ngôn Tiểu Châu Thiên

Hoa Dýõng viết : Tiên ðạo luyện Nguyên tinh vi ðõn. Phục thực tắc xuất thần hiển hóa, thế gian vô bất hỉ nhi nguyện cầu.
Nại hà Thiên cõ bí mật, học giả vị tất cùng kỳ cãn nguyên, cố ða tại trung ðồ nhi phế. Sở dỉ dý kim thiển thuyết, sử học giả khái nhi chứng chi.
Phù, tinh vi vạn vật chi mỹ, tức dýỡng thân lập mạng chi chí bửu.
Nhý tinh dĩ bại giả dĩ tinh nhi bổ Tinh, bảo nhi hýờn sõ, sở vị ðắc sinh chi do.
Vị bại giả, tức dĩ thử nhi siêu thốt, dýỡng thai hĩa Thần tắc diệu dị vi, dị tu, dị thành chi quả.
Tiên cõ về hạ thủ luyện Ðõn, tức là nguyện nguyên Tinh trong Thận. Tinh sung mãn thì khí tự phát sinh, và luyện cho khí này trở thành Nguyên khí. Lại luyện cái Nguyên khí này ðể bồi bổ Chân khí Tiên thiên. Bổ cho ðến khi nào Chân khí ðýợc sung túc thì sanh cõ bất ðộng.
Sanh cõ bất ðộng còn gọi là Tru bạch hổ (Nam) hay Trãm xích long (Nữ), hay gọi Lặt dýõng quan. Là quả Sõ chứng Trýờng sinh bất tử của phẩm Nhõn Tiên
Phục thực: Còn gọi là Quá quan Phục thực. Quá quan là ði qua ba cửa Tam quan và Thiên mÔn quan, Thýợng Thýớc kiều quan, Thập nhị trùng quan.
Phục thực: Tuy nói Xá lợi về Trung ðõn ðiền, mà có pháp kiêm ðiền, nên có Hạ ðõn ðiền, chỗ cũ của Xá lợi thành, nên gọi Phục thực.
Quá quan phục thực là một pháp môn rất bí mật. Chỉ truyền cho hàng Thýợng cãn.
Sau mýời tháng hồi thai tại Trung Ðiền viên mản có tên ví dụ là Ngọc Mâu ni rồi lên Thýợng ðiền ðể luyện xuất Thần hiển hóa, biến thiên ức hóa thân. Ngýời thế gian nào lại không thích.
Thiên cõ bí mật : Là thời dýõng ðọng trong thân ta, còn gọi là Huợt Tí thời. Là cõ tâm mật của Tiên Chân Thýợng Thánh, chẳng chép ra tre lụa, nên Tu sĩ làm sao Cùng lý ðến tận cãn nguyên, cho nên nữa ðýờng phải bỏ cuộc.
Tinh là vật tối mỹ cuả con ngýời và vạn vật. Ngýời còn tinh này thì sống và là ðiều kiện phải có thể býớc lên bậc Thýợng thừa. Ngýời ðã khánh kiệt Tinh này thì xem nhý ðã chết ði một kiếp ngýời, nên muốn býớc lên bậc Thýợng thừa phải chờ kiếp sau!
Tinh này là cãn nguyên của Tánh Mạng.
Cổ nhân có nói: Lýu ðắc dýõng tinh Thần Tiên hiện thành. Há chẳng báu sao?
Các thành phần Tinh ðã hao tán, phải dùng pháp bổ tinh mà hổ trợ.
Hán Chung Ly Chân Nhân nói: Vãn niên tu trì, Tiên luận cứu hộ.
Vị bại là Chân ðồng, thì Tinh mãn Khí túc, nên khõng cần phải trúc cõ bổ Tinh, Cứ hạ thủ trong một thời gian ngắn là kết Xá lợi.Nhýợc dĩ Thần thử Tinh, do Tự nhiên chi Tạo hóa, tắc Nhõn ðạo tồn. Nhýợc dĩ Thần nghịch thử Tinh, tu Tự nhiên chi Tạo hoá, tắc Tiên ðạo thành. Cố: Tinh giả nải thị nhập tử nhập sanh chi quan tỏa. Kỳ danh tuy nhiên xýng chi viết: Tinh. Ky lý bổn tự võ hình.
Nhân tịnh trung ðộng nhi ngõn chi viết: Nguyên tinh. Ðýõng kỳ vị ðộng chi tiền, hồn nhiên khõng tịch, thị chi bất kiến, thính chi võ thinh, diệt phi Tinh dã, diệt phi vật dã.
Vô khả danh nhi danh, cố danh chi viết: Tiên Thiên. Dịch viết: Vô cực thời dã.
Tự thời tắc Thần tịch, Cõ tích, vạn vật quy cãn. Thử chánh vị chi hý cực tinh ðốc.
Tinh trung hoảng hốt, ngẫu hiểu dung hội chi diệu ý, tiện khả danh nhi hữu kỳ danh, cố danh chi viết: Ðạo. Dịch viết: Thái cực thời dã.

Ngýời ðời gặp lúc tinh sanh, chẳng biết tu luyện, là không biết cách thu nó về, nên thuận theo cõ Tạo hóa, là nam nữ giao cấu rồi sanh ngýời, nên gọi Thần thuận thử tinh.
Tu sĩ nhờ có bậc Chân sý chỉ truyền pháp Thể thủ, biết cõ Tạo hóa của tinh này, biết nghịch quy Khí huyệt, rồi dùng Chân hỏa hà huyệt cho tinh hóa thành khí, mà thốt thai ðể thành Tiên hóa Phật. Theo ðó mà ðắc, là do tinh nghịch cảnh hóa.
Tinh là cãn do phân Thánh phân phàm.
Còn tinh thì sống. Tinh kiệt thì chết, nên gọi: Quan tỏa. Tinh này trýớc khi chýa ðộng, trong ấy vốn hý vô, có tinh ðâu mà gọi tên. nhân ðýợc tích cực, dýõng theo tinh mà phát ðộng, nên gọi tên là Nguyên tinh.
Trong lúc chýa ðộng là thời Hồng mông chýa chia. Huyền môn gọi là Tiên thiên. Thích gia gọi là oai âm. Nho gia gọi là Vô cực. Tổng thuộc hý vô nên khí cũng không.
Lúc bấy giờ là thời Hồng mông vị phán vốn một khối, chẳng thấy týớng của: Thiên , Ðịa, Nhõn, Ngã, nhý mùa Ðông, vạn vật Quy cãn, dýõng khí tiềm tàng, nên gọi Cõ tức lại có khí sinh.
Hoảng hốt là trạng thái âm dýõng mới bắt ðầu biến hóa, gọi là Thiên cõ gần manh nha chứ chýa thiệt ðộng. Thiệu Khýõng Tiết Tiên Sinh nói:
Hoảng hốt âm dýõng sõ biến hóa.
Nhân õn Thiên Ðịa sa hồi triền.
Thái cực khí gần phát ðộng thì khí Nguyên dýõng (Nguyên khí) sắp phát sinh. Sau khi khí này sinh rồi thì chuyển thành trạng thái hồi truyền và có Nguyên tinh phát sinh. Thể thủ là thể cái Tinh này.
Thời Vô cực chýa có gì cả nên làm gì có danh. Trong con ngýời gọi là cung Vô cực tức là Tử cung. Khi một ðiểm dýõng tinh của cha ðiểm vào cung này gọi là Vô cực nhi Thái cực.
Còn luận về ngýời tu luyện thì Vô cực là Cốc Thần, Thái cực là Huyền quan Tổ khiếu.
Luận về vũ trụ bên ngồi, thì vô cực là cảnh ðại hý phong, còn Thái cực là Tử vi tinh.
Từ khi Thái cực hiện ra là có danh, tức Thái cực là Thái Cực Thánh Hoàng là Thýợng Ðế, là Ðức chúa trời, là Ðạo.
Nhân thử Cõ nhất manh viết: Nguyên khí, Khí ký dĩ manh nhi hậu triền ðộng viết: Nguyên tinh. Tu Tiên tác Phật chi tạo hóa, tùng thử nhi hạ thủ. Nhýợc phù trần niệm kiêm phỉ, tất hóa dâm tinh thuận dýõng quan nhi xuất.
Tu sĩ chánh ðýõng thử thời, chánh niệm vi chủ, dĩ Thần ngự Khí, sử hô hấp chi khí lýu luyến Nguyên tinh, khả vi hýờn nguyên chi ðạo. Chân tinh ký ðắc hýờn nguyên, sử kỳ Thần Khí hỗn hợp lýỡng bất týõng li. Sử kỳ nhi vật dung hóa, hiệp nhi vi nhất. Nhý Dịch sở vị: Thiên ðịa, nhân õn, vạn vật hóa sinh. Nhiên hậu Tiên Thiên Chân nhất chi khí, nhýng cựu tùng khiếu trung phát xuất, nhi vi Kim ðõn chi chủ tể. Sở dĩ cổ vân: Vị hữu bất giao cấu, nhi khả nãng thành tạo hóa giả hồ?

Ðoạn vãn này Thiền sý ðã tiếp tận Thiên cõ, tu sĩ cần phải cùng lý ðể ứng dụng cho cõ Thiền ðịnh. Thánh nhân có nói: Nhýợc vô chí tu Tiên tu Phật, hà nãng tham cứu Thiên cõ.
Chỉ có hàng Tu sĩ phát tâm chứng quả Vô thýợng Chánh ðẳng Chánh giác, mới quyết tâm tham cứu Thiên cõ.
Thiên cõ là khí Chân dýõng trong ngýời phát ðộng. Chân dýõng khí bắt ðầu phát ðộng gọi là Cõ nhất manh. Thì có Chân khí phát sinh.
Chân khí sau khi ðã sinh và bắt ðầu triền ðộng thì có Chân tinh phát sinh.
Lúc khí Chân dýõng bắt ðầu manh nha, ta lập tức hồi quan phản chiếu, ngýng Thần Tại Tổ khiếu mà chờ. Chờ ðến khi Chân tinh phát sinh thì lập tức thu nhiếp quy Lý.
Tất cả Phật Thánh Thần Tiên ðýợc chứng quả Vô thýợng Chánh ðẳng Chánh giác, ðều dụng công thể thủ Chân tinh này. Nếu bỏ Chân tinh này thì vạn vô nhất thành.
Chân khí triền ðộng rồi sinh Chân tinh này, là thuốc không già không non, ðúng là Chân ðýợc nên thể nhập quy Lý.
Thời gian dụng công Thể thủ, phải giữ cho Tâm thật hý tinh, nếu có trần niệm dấy lên, tất sẽ hóa thành dâm tinh, thuận theo ðýờng Thục lộ mà ra.
Công phu Luyện kỹ còn gọi là Trúc cõ. Là xây nền ðắp móng cho thật kiên cố, là Luyện kỹ thật thuần thục, là luyện tâm ðã thuần nhất.
Tu luyện ðýợc nhý vậy mới có Chân dýợc, mới biết dùng Chánh niệm làm chủ cho công phu thể thủ, mới dụng công dĩ Thần ngự Khí ðúng pháp, và mới làm cho Chân khí trong cõ Tiêu tức lýu luyến Chân tinh. Có ðýợc nhý vậy mới ðúng cái ðạo hýờn nguyên, là Thể dýợc quy Lý.
Chân tinh khi ðã quy Lý, tự nhiên có sự huyền diệu, nhý Vô cực mà có Thái cực. Nếu nhý không có Chân tinh, thì Lý này không có huyền diệu gì cả. Cũng nhý Vô cực mà khõng có Thái cực, thì Vô cực này khõng có cõ linh diệu biến hóa.
Nhờ có cõ linh diệu của Lý này mà Thần với Khí trộn trạo nhau, tợ nhý Thủy ngân với chì hòa lẫn nhau khiến nên hai thành phần không hề lià nhau, dung hòa làm một.
Khí của trời, khí của ðất nếu chẳng giao mhau thì không thể nào sanh ra vạn vật, và vạn vật cũng không thể nào nối tiếp sự sống còn.
Nhý trong một ngày ðêm khõng có hai giờ Tuất, Hợi Thái cực thì vạn vật sẽ khõng co cõ Tạo hóa tiếp nối sự sống còn trong ngày mai.
Trong một tháng có 5 ngày, từ 26 ðến 30 âm lịch, trong một nãm có 2 tháng Tuất Hợi, trong một ðại nguyên 129.600 có hai hội Tuất Hợi… Là thời gian Thái cực tạo nên cõ Tạo hóa tiếp nối sự sống cón.
Con ngýời mới bắt chýớc theo ðĩ mà dụng công Thiền ðịnh, là tạo nên trạng thái Thái cực miên miên mà Cốc thần bất tử, mà siêu phàm nhập Thánh.
Thái cực miên miên tại Cốc thần, thì có Tiên Thiên Chân nhất từ trong Cốc phát xuất và làm chủ tể của Kim ðõn.
Cho nên Cổ nhân có nói: Nếu chẳng có cõ giao cấu thì làm sao có cõ Tạo hóa?
Cõ giao cấu ðĩ là: Thái dýõng nhập Thái âm, là Tây trạch nữ xuống kết cấu với chàng Ðông xá lang, là: Thủy tắc Hống ðầu Diên quật, trung tắc Diên nhập Hống gia.
Phù ký tri thử khí chi sanh cõ, tức khả dĩ hành hỏa bổ khí nhi luyện ðõn. Cố hữu biện thời thể thủ Châu Thiên chi biện thời hầu.
Cổ vân: Thời chí Thần tri. Chánh ngõn thử dýợc sản Tiên Thiên Chân khí.
Tu sĩ tu ðýõng thử thời, tu dụng ngýng Thần hiệp Khí chi phát, thâu phĩ ý bản cung, tắc thị vi ngã sở hữu chi diệu dýợc. Dýợc khí ký thừa thọ dĩ quy Lý, tu ðýõng bồi hồi ý Tý Ngọ, vận ðộng thân trung chi triền cõ, hựu tất tu giả hõ hấp chi khí, nhi xuy khý chi, phýõng ðắc Càn Khõn ý Nguyên quan hiệp nhi vi nhất, tuần hýờn ý câu quản.
Cố Thần khí thừa hõ hấp chi nãng, tài ðắc týõng y ðồng hành nhi bất ngoại du.
Thả khí chi hành trụ, hựu phạ hữu thải quá bất cập chi tệ. Cố tất y Châu Thiên chi hạn pháp. Ngõn thập nhị thời nhý nhất nhật nhất Châu. Cố Khõn hý vân: Tí hành tam thập lục, tích ðắc dýõng hào nhất bách bát thập số. Ngọ hành nhì thập tứ, hiệp ðắc âm hào nhất bách nhị thập số. Ngoại kiêm Mẹo Dậu chi pháp. Trung ðồ hành Mộc dục hồn thành Châu Thiên. Sở dĩ cổ vân: Khí hữu hành trụ khởi chỉ ða thiểu chi hạn pháp.

Ðoạn vãn này Tiên gia gọi là Châu Thiên vận. Thích gia gọi: Pháp luân thýờng chuyển. Nho gia gọi là Hành ðình.
Châu Thiên vận cĩ ðịnh kỳ là từ thời cõng phu. Có bất ðịnh kỳ là sanh cõ của Chân khí.
Cả hai thời kỳ dụng công Châu Thiên vận ðều nhằm mục ðích hành hỏa bổ khí. Hỏa có ðặt tính là dýõng, nên hành hỏa là lấy dýõng khí ðể bồi bổ cho dýõng khí, rồi dụng công huân chýn cho dýõng này hóa thành Thuần dýõng. Vậy hành hỏa cũng là công phu Càn Càn bất tức của Dịch lý, cùng công phu Tấn dýõng hỏa ðể dýỡng hỏa, ðể bổ hỏa của Tiên gia.
Tiên gia còn có Bổ âm võ song pháp môn. Pháp này dùng Kim dịch ðể tạo Kim ðõn.
Thể thủ Chân dýợc phải phân biệt lúc nào Thuốc già lúc nào Thuốc non. Thuốc già non ðều chẳng kết Ðõn, nên phải hái thuốc cho ðúng. Thuốc ðúng là lúc Chân khí triền ðộng mà sanh Chân tinh. Chỉ có Chân tinh này mới là Chân dýợc, mới thể thủ quy Lý.
Tu sĩ nếu chẳng biện thời, tất nhiên Chân dýợc sẽ bị tẫu thất.
Châu Thiên hầu có 5 Thời hầu. Thời hầu của giờ Tý và giờ Ngọ, thì vận hành là chính Mộc dục là phụ. Thời hầu của giờ Mẹo và giờ Dậu, thì Mộc dục là chính vận hành là phụ. Còn một Thời hầu nữa là Thời hầu Thể dýợc.
Sanh cõ có sanh cõ của Trung Thiên là Chân dýợc phát sinh. Còn sanh cõ của Hậu Thiên là Tâm khởi niệm và Thận lậu tinh. Hai cõ sanh này nên diệt trừ.
Thời chí Thần trị: Thánh nhân có nói: Bất phạ niệm khỉ, Chỉ khủng giác trì.
Thời chí là lúc thân tinh phát sanh, Thần phải biết ðể thu nhiếp qui Lý. Nếu chẳng biết thì tinh lậu!
Tu sĩ phải biết lúc Chân tinh sanh, liền dùng pháp ngýng thần nhập khí huyệt ðể thâu thủ về bản cung, ðó là một loại thuốc linh diệu sở hữu của ta.
Thuốc ðã qui Lý phải dùng Chân hỏa mà huân chýn, dùng Chân ý mà phong cố, dùng bồi hồi mà vận hành.
Triền cõ: Là cõ tiêu tức nõi ðýờng Huỳnh ðạo. Là cõ vận chuyển âm dýõng trong thân ta. Là cõ tuần hồn cuả nhâm Ðốc ðạo lộ .
Châu thiên triền cõ tuy là vận hành Chân tức, còn gọi là Trung thiên vận, nhýng trong ðĩ vốn cõ sở hô hấp Hậu thiên ðể hổ trợ và dung hố thành Tiên Thiên Chân khí: Nhờ mýợn khí hõ hấp ðể xuy ðộng cõ Tiêu tức mới bức trục ðýợc khí Chân dýõng thõng hành nõi ðýờng ðạo lộ âm dýõng, ðể thõng ðạt với Càn Khôn mà làm ðại tổng khiếu nõi thân ta.
Tử Dýõng Chân nhân nói: Nhất Khổng Nguyên quan khiếu. Càn Khôn cọng hiệp thành.
Thần hành thì Khí hành. Thần trụ thì Khí trụ, mà tạo ra cõ týõng y. Thần khí còn phải nýõng theo nãng lực của hô hấp, mới ðúng với cõ khắc lậu mà chẳng bị ngoại trì. Vậy hõ hấp cũng là quyền bĩnh của Thần khí.
Châu thiên vận phải ðúng hạn số. Nếu thái quá thì có thể bị Tẩu hỏa nhập ma. Nếu bất cập thì Chõn ðõn chẳng kết.
Châu Thiên hạn số là 384 châu.
Tí: 180 châu. Ngọ :120 châu. Mẹo: 48 châu. Dậu:36 châu.
Thời gian 180 châu ðộ 20 phút. Cứ theo ðó mà phân cho 3 giờ kia, cộng với thời gian Tịch chiếu mỗi giờ là 2 tiếng ðồng hồ, chẳng ðýợc nhanh, cũng không ðýợc chậm. Chẳng ðýợc mạnh mà cũng không ðýợc yếu. Tấn mạnh thì Thýợng bộ bệnh. Thối mạnh thì hạ bộ bệnh. Tức là phi Vãn phi Võ.
Bạch Ngọc Thiềm Chân nhân có nói : Khỏi tại Hý Nguy, Chỉ tại Hý Nguy.
Tu sĩ nên chú ý: Ðõn kinh óo phân giờ âm giờ dýõng. Nhýng lúc cõng phu thì không phân âm dýõng.
Học giả bất khả bất sát.
Phù ký ðắc châu Thiên chi diệu dụng, tích lũy ðộng khí, thời lai thời luyện, bổ hồn Chân khí, tắc Tinh khiếu bất lậu, tiện khả vị chi Trýờng sinh.
Nhý hữu Tinh khí lậu giả, tắc vị cập chứng bất tử chi quả. Tất gia tinh tu, dĩ Nguyên tinh tận phải hýờn Chân khí, nhi ngoại hình diệc võ manh ðộng chi cõ, tắc thị danh vi Ðại dýợc thành, Tiện khả tác Ðại châu Thiên chi công pháp.
Tích lũy ðộng khí: Tích lũy ðộng khí ở trong Chân ðộng mới là Chân tinh. Chân ðộng là nội bất ðộng mà ngoại ðộng. Chân tinh ðã sanh thì, lập tức thu về Lý rồi huân hóa cho thành Chân khí.
Cứ nhý vậy mà Thể mà Luyện mãi thì Chân khí nõi bản cung ðýợc sung mãn. Lâu ngày sẽ thành Ðại dýợc.
Trong mỗi thời Thể Chân dýợc, nên vận vài mýõi Châu Thiên, vận cho ðến khi nào ngoại thận (Dýõng Vật) rút vào thấy nhẹ nhõm mới thõi.
Lý Chân Nhân nói: Dýõng quan nhất bế, cá cá Trýờng sinh.
Còn lậu tinh tức còn phàm phu tục tử.
Tinh không còn lậu, là Chân nhân bất tử.
Ngýời ðời cũng co số khõng lậu tinh, cũng có số chýa kinh quá Hỏa pháp mà cũng chẳng lậu. Ðó chẳng phải là Chân nhân vô lậu, mà là phàm phu tinh kiệt. Chớ nên ngộ nhận là tu chứng.
Chẳng có tinh thì ngoại Thận không cữ ðộng.
Có tinh và nhờ Luyện tinh mà nhý ý bỗng không cữ, mới là Ðõn thành.
Nếu còn một ý vi manh, tất chýa chứng quả.Tất phải gia công huân luyện.
Lúc Ðại dýợc thành, lập tức dùng pháp Quá quan phục thực ðýa Xá lợi về Trung ðiền, phối hợp với hạ ðiền ðể dụng công phu mýời tháng hồi thai, gọi là thời Ðại Châu Thiên. Thời hầu này phải tuyệt dứt Võ hỏa, mà chỉ dùng Vãn hỏa mà thôi.



THÍCH NGHĨA CHÍNH VÃN

Hoa Dýõng Thiền sý nói: Chủ ðích của Tiên ðạo là thu Nhiếp Chân tinh quy Lý, ðể huân luyện cho thành Kim ðõn.
Tiếp theo cõng phu trên là Quá quan phục thực, mýời tháng nuôi dýỡng "Thánh Thai", rồi ba nãm luyện xuất Thần Hiển hóa, biến thiên ức hóa thân, ngýời trong thế gian có ai là chẳng nguyện cầu.
Nhýng về Thiên cõ bí mật, học giả khởi cùng ðến tận cãn nguyên, nên có nhiều ngýời nữa ðýờng bỏ cuộc! Cũng vì lẽ ðó nên nay ta mới nói hết, ðể cho học giả tiếp thu trọn vẹn mà chứng quả. Chủ yếu là tinh. Tinh là thành phần rất quý của vạn vật, là vật chí bửu ðể dýỡng thân lập mạng. Nếu nhý ngýời nào tinh ðã bị bại, thì phải lấy tinh ðể bổ tinh ðể bảo mạng và ðýợc trở lại nhý thời thõ ấu. Ðó là cái hýớng luyện ðắc Trýờng sinh.
Còn ngýời nào Tinh chýa bại, thì lấy Tinh khí ðó mà tu mà luyện, mà ðoạt cõ Siêu thoát, mà dýỡng thai, mà hóa Thần, ðó là cách dễ tu, dễ làm, dể làm Chánh quả.
Nếu Thần ði thuận theo cõ tinh sanh, rồi nýõng theo lý tự nhiên của tạo hóa, mà thành tồn Nhõn ðạo.
Còn nếu Thần mà ði nghịch lại cõ tinh sanh này, mà tu theo Tự nhiên của tạo hóa, thì Tiên ðạo thành. Cho nên gọi: Tinh là cửa quan ải nhập tử nhập sanh.
Tên nó tuy gọi là Chân tinh nhýng trong Chân tinh ấy vốn tự võ hình, chỉ nhân cõ ðộng trong tịnh mà nói là Chân tinh.
Trýớc khi khí Chân dýõng chýa ðộng vốn hồn nhiên khõng tịch, nên ngĩng xem cũng khõng thấy hình sắc, nên lòng nghe cũng chẳng thấy âm thanh.
Cũng chẳng phải là Tinh, cũng khõng phải là vật. Chẳng biết gọi danh gì mà lại có danh, cho nên gọi là Tiên Thiên. Dịch gọi: Vô cực chi thời.
Lúc bấy giờ thì Thần vốn tịch tịnh, chẳng có cõ ðộng, vạn vật ðều quy cãn. Ðó là cảnh trí Trí hý cực thủ tịnh ðốc của Thái cực.
Trong trạng thái Thái cực có cõ hoảng hốt, tợ nhý ngýời nữa thức nữa ngủ, tình cờ có cái diệu ý dung hội, nên mới mệnh danh mà nay có danh, cho nên gýợng gọi là Ðạo. Dịch gọi là thời của Thái cực.
Nhân ở khí Chân dýõng mống khởi, mà gọi là Chân khí. Chân khí lại mống khởi và triền ðộng, mà có Chân tinh. Ðó là cõ Tạo hóa, tu Tiên tác Phật cũng theo ðây mà hạ thủ công phu.
Nếu nhý trần niệm cùng dấy lên, tức hóa dâm tinh, thuận dýõng quan( Niệu Ðạo) mà ra! Chính lúc này Tu sĩ phải lấy chánh niệm làm chủ, lấy Thần ðể chế ngự Khí, dùng khí Hõ hấp mà lýu luyến Nguyên tinh. óo thể gọi ðó là cái ðạo hýờn nguyên.
Thâu thủ lấy cái Thần Khí hổn hợp, là lúc hai thành phần ðó chẳng lià nhau, mà dung hoà hiệp làm một, nhý Dịch gọi: Thiên ðịa nhân õn vạn vật hóa sanh.
Sau ðó, khí Chân nhất của Tiên Thiên còn Lýu tồn lại rồi từ trong khiếu phát ra, và làm chủ tể cho Kim ðõn. Cho nên Cổ nhân mới nói: Chýa có ngýời nào chýa dùng pháp giao cấu, mà thành cõ Tạo hóa.
Ðã biết về sinh cõ của Chân khí, liền nên hành hỏa bổ khí mà luyện ðõn, cho nên mới có sự phân biệt về hầu Thể thủ Châu Thiên.
Cổ nhân nói: Thời chí Thần tri. Chính là lời nói: Chân dýợc sinh Tiên Thiên Chân khí.
Tu sĩ ðúng lúc này, nên dùng pháp ngýng Thần hiệp Khí mà thu gởi về bản cung, ðó là diệu dýợc sở hữu của ta.
Chân dýợc, Chân khí ðã thừa thọ quy Lý, nên dùng cõ thãng giáng nhý Tý Ngọ, mà vận ðộng triền cõ trong thân ta. Lại còn phải mýợn cái khí hõ hấp ðể thổi lùa, thì Càn Khôn mới Nguyên quan mới hiệp làm một, và tuần hồn nõi ðạo lộ Tào khê. Cho nên Thần khí thuận theo khí hô hấp, mới nýõng nhau vận hành, mà không bị ngoại du.
Chân khí lúc hành lúc trụ, còn sợ cái tệ thái quá và bất cập. Cho nên phải theo ðúng hạn số của Châu Thiên. Châu Thiên hạn số là ví nhý 12 trong một ngày ðêm.
Khôn Hý Thiền sý nói: Tý thời vận 36 hệ tích dýõng hào thành 36 x 5: 180 châu. Ngọ thời vận 24 hiệp tích với âm hào thành 24 x 5: 120 châu.
Còn phải kiêm gồm pháp Mộc dục, mới hồn thành Châu Thiên..
Cho nên cổ nhân có nói: Chân khí cĩ hành trụ, khởi chỉ, và hạn số ớo nhiều ít.
Học giả cần phải xét cho thật kỹ.
Ðã ðắc ðýợc cõ diệu dụng của Châu Thiên, là tích lũy Chân khí trong cõ ðộng của khí Chân dýõng, hễ thời lại thì theo thời ðó mà luyện, ðể bổ hồn Chân khí, thì Tinh khiếu bất lậu, cũng có thể ðạt ðýợc trýờng sinh.
Nếu nhý tinh khiếu còn lậu, là chýa chứng ðýợc quả bất tử.
Tất cần phải gia công tinh tu, luyện Nguyên tinh trở thành Nguyên khí, mà ngoại hình khõng có cõ ðộng, tức là Ðại dýợc thành, và có thể tiến lên cõng pháp Ðại Châu Thiên.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 11:02 am

3. LUYỆN KỶ TRỰC LUẬN

Hoa Dýõng viết: Tích nhật Lữ Tổ vân: Thất phản ðõn thành tại nhân Tiên tu luyện kỷ ðải thời.
Cái kỷ giả tức bản lai linh giác. Ðõng giả vi ý, tịnh giả vi Tảnh, diệu dụng vi Thần. Kim ðõn Thần tuy hữu quy nhất, tắc hữu, song phát chi chỉ. Tiên nhật bất luyện kỷ hýờn hý, tắc lâm thời thục cảnh nan vong, Thần kỳ Khí tán, an nãng ðạt Tạo hĩa chi cõ, hýờn ngã Thần nhất nhi vi Kim ðõn sanh phát chi bản.

Kỷ là Chân niệm trong Tâm ta. Nếu muốn thành Kim ðõn, trýớc nhất phải lo Luyện kỷ
Nếu Luyện kỷ chýa ðýợc thuần thục, làm sao Luyện Chân tinh hĩa thành Chân khí ðýợc, Chân khí hýờn làm Chõn thần.
Thất là con số Thiên thất thành chi. Trýớc lấy Hỏa nhập vào trong Thủy, gọi là Phản. Sau lấy Thủy thãng lên Hỏa gọi là hýờn.
Ðải: Là hầu , là chờ, là một tiết tự cõng phu. Nếu hữu tâm mà chờ tức bị thuộc vào cấu trệ, mà Chân Khí lại chẳng sinh. Nếu võ Tâm mà chờ thì bị lạc vào nẽo ngoan khõng, gây ra lỗi lầm Chân cõ. ốo là hữu võ ðều lýởng thất!
Nhý vậy phải làm sao?
Lại có hýờn ở võ, mà nội linh tợ nhý hữu. Cho nên thiên Ly Tảo viễn du nĩi: Võ hýợt (hời hợt) nhi hồn (hồn nhiên) hề, bỉ týợng (gần) tự nhiên. Nhất khí khổng (thõng suốt), Thần hề, ý trung dạ (ðêm) tồn. Hý dĩ ðãi chi hề, võ vi chi Tiên.
Các thành phần này trýớc khi chýa phát, vốn hồn nhiên trống khõng. Lặng lẽ nhý thái hý, nên làm gì có danh mục, nhân cõ manh nha mà nói Thần, ý và Tánh.
Lúc luyện Ðõn, trýớc phải võ vi, tịch nhiên bất ðộng, hồn nhiên khõng khõng lộng lộng, chẳng hề có niệm hữu võ. Chờ ðến lúc cõ ðộng, phát Chân ý mà Thể thủ.
Lúc vận Châu Thiên lại lập Chánh niệm, chủ ðẩu tiêu và cán triền cõ Tiêu tức của hai khí nõi thác thýợc, Thần lại theo Chân khí mà tuần hýờn.
Hýờn hý: Là thuần hồ dĩ tịnh, tịnh ðể hóa, thảy khõng hình tích, trở lại hồng mông, phục quy Vô cực.
Ðó là bản lai Tánh thể.
Lâm thời: Là ðến lúc Chân dýợc sản.
Nếu trýớc Luyện kỷ chýa ðýợc thuần thục, thì trong thời gian Thể dýợc, luyện dýợc ắt có cái niệm phân hóa, và Thần chẳng ðýợc chủ trýõng, khí phải bị tán phát.
Ðoạt: Là thâu thủ, là cýớp lấy. Tạo hóa: Là khí dýõng sinh. Thần thất: Là Hạ ðõn ðiền.
Thần thất có ba cái nồi luyện kim, lấy Hạ ðiền làm chủ. Cho nên Thần khí khởi hành cũng tại ðó, quy tàng cũng ở ðó, nên gọi là Thần thất.
Thần thất là nhà u linh của Thần khí ở.
Sanh phát: Có hai nguyên nhân tạo nên cõ sanh phát. Sanh phát là khí Chân dýõng phát sanh ra Chân khí.
Nguyên nhân thứ nhất: Là do hiện týợng Thái cực tự nhiên là giờ Tý thì có Chân khí phát sinh.
Nguyên nhân thứ hai: Là do tu sĩ dụng cõng Thiền ðịnh ðến trạng thái Thái cực, thì cũng có Chân khí phát sinh.
Ðó là cãn bản của cõng phu luyện ðõn.
Cố Cổ nhân Luyện kỷ giả: Tịch ðạm trực thiệp, Thuần nhất bất nhị, dĩ tịnh nhi hồn, dỉ hý nhi linh. Thýờng phiêu phiêu hồ, tuỳ xứ tùy duyên nhi an chỉ. Bất cứu kỳ sở tại. Bất cầu kỳ vị chí, Bất hỉ kỳ hiện tại. Tĩnh tĩnh tịch tịch. Tịch tịch tĩnh tĩnh. Hình thể bất câu bất trệ. Hý linh giả bất hữu bất võ. Bất sinh tha nghi. Liễu triệt nhất Tâm, trực nhập ý Võ vi chi hĩa cảnh Thử nải trí giả Thýợng cãn chi luyện pháp.

Tịch ðạm trực thiệp: Tâm lặng lẻ thanh hý, cýõng nghị, có sức dũng mảnh thẳng tiến trên ðýờng tu học.
Thuần nhất bất nhị: Tâm chẳng cịn cái niệm hữu võ, thiện ác, hay bất cứ một ðối týợng nào.
Tịnh nhi hồn: Là trạng thái Thái cực, tợ nhý cảnh hồng mõng chýa chia, nhý ngýời nữa tỉnh nữa mê.
Hý nhi linh: Suốt cả ngày ðêm, cao hõn là nãm tháng, tâm ðịa hồn tồn trống rỗng, nhờ ðó mà ðýợc sáng suốt linh diệu, nên gọi: Tâm hý linh bất muội.
Thýờng phiêu phiêu: Tâm chẳng dính mắc một ðiểm hình tích, âm thinh sắc týớng hữu vi. Cho ðến Tứ Týớng cũng hồn tồn khõng mắc vào Tâm.
Tùy xứ tùy duyên nhi an chỉ: Tâm hằng thýờng còn ðạo Trung, chẳng hề thiên chấp. Ðây cũng là trạng thái của Tu sĩ ðã khắc kỷ ðến trình ðộ cao tột Ðịa Thiên Thái, là Tâm là Tánh của bậc Chân nhân.
Bất cứu kỳ sở tại: Tâm ðã trống rỗng nhý cỏi Thái hý, thì tất cả những gì hiện tại cũng hóa thành hý khõng, nên còn có gì mà suy mà xét.
Bất cầu kỳ vị chí: Lịng ðã dứt sạch cái duyên trần tục, ðã cắt ðứt dây luyến ái phàm tình, phú quý vinh hoa xem nhý mây khói, danh và lợi coi nhý chiếc dép rách, nhõn dục chẳng còn, thì cầu ở týõng lai cái gì.
Bất hỉ kỳ hiện tại: Lòng ðã rữa sạch mùi trần, nên những gì ðã có nhý giàu sang tột ðỉnh, cũng tợ nhý một giấc chiêm bao. Có gì mà mừng.
Tịch tịch tĩnh tĩnh: Là hiện týợng tịnh trýớc mà ðộng sau, tịch trýớc mà chiếu sau, ðó là cõng phu Thiền ðịnh ở trạng thái tự nhiên, nhý lúc Chân tinh chýa sinh.
Tĩnh tĩnh tịch tịch: Là lúc Chân tinh ðã sinh, nên Tu sĩ trýớc phải lập tức “Hồi quang phản chiếu” Là chiếu là tĩnh trýớc. sau ðó mới “Tịnh Ðịnh”
Hình thể bất câu bất trệ: Cõng phu Thiền ðịnh tối kỵ: Thân Tâm lao lục. Nếu lao lực thì phải bị hôn trầm, khiến cho giờ công phu vô hiệu.
Hý linh bất hữu bất vô: Tâm ðã ðạt ðýợc hý linh bất muội, thì còn gì là hữu, còn gì là vô.
Bất sinh tha nghi: Chỉ có cõng phu học vấn ðã ðạt ðến Cùng lý rồi, thì tất cả ðều biết, nên tất cả cũng chẳng có gì là nghi ngờ nữa .
Liễu triệt nhất tâm: Tâm này ðã ðýợc Linh giác trọn vẹn, ðã thýợng thõng Thiên vãn, hạ ðạt Ðịa lý, trung quán nhõn sự. Tợ nhý Thái dýõng treo giữa hý khõng, mýời phýõng sáng chói.
Trực nhập hóa cảnh Vô vi: Cảnh này là cảnh tự nhiên Vô cực. Chẳng có cảnh nào bằng. Tu sĩ ðã ðạt ðýợc tất cả những gì về cổ nhân luyện kỷ nhý trên ðã nói, thì tâm hồn ðã ðạt ðến cảnh Trí Tự nhiên võ cực, là vô cùng cao tột.
Tâm hồn ðã ðạt ðýợc cảnh trí Tự nhiên võ cực, có khác gì bậc Chân Nhân ðã khắc kỷ ðến trạng thái Ðịa Thiên Thái.
Lời Thốn từ của quỷ:… Nội dýõng nhi ngoại âm. Nội kiện nhi ngoại thuận. Nội cýõng nhi ngoại nhu.
Tức ngồi Tánh thì Thuần âm, thì thuận, thì nhu. Còn nội tâm thì Thuần dýõng, thì kiện, thì cýõng.
Luyện ðýợc Tâm Tánh nhý quỷ Thái là phýõng Luyện kỷ ðã cao tột, nhý phần Luyện kỷ của bậc Trí giả Thýợng cãn ðã nói ở trên.
Nhýợc phù trung hạ chi lýu tất vị nhiên.
Ðýõng vị luyện chi Tiên, mỗi bị Thức thần sở quyền, bất giác hiện Tạo hóa chi cõ nhi thuận hóa, dục luyện tinh giả bất ðắc kỳ tinh trụ, dục luyện khí giả bất ðắc kỳ khí lai.
Cổ Vân: Bất hiệp hý võ bất ðắc Tiên. Cái vị thử dả. Cố dụng Tiệm pháp nhi luyện chi. Thả vị luyện giả ðoạn dục, li ái, bất khỉ tà kiến, phùng ðại ma nhi bất loạn giả, viết: Luyện, Vị ngộ, khổ hạnh cần cầu lệ chí, cửu nhi bất thối giả, viết: Luyện, Hý tâm lợi nhõn, bất chấp vãn tự, cung nghinh nhi ai khẩn gia,û viết: Luyện. Nhãn tuy kiến sắc nhi nội bất thọ nạp giả, viết: Luyện. Nhỉ tuy vãn thinh nhi nội bất thọ âm giả viết: Luyện. Thần tuy cảm giao nhi nội bất khỉ tý giả viết: Luyện. Kiến vật nội tĩnh nhi bất mê giả viết: Luyện. Nhật dụng bình thýờng nhý nhý, nhi tiên Luyện kỷ thuần thục tắc ðiều dýợc nhi ðắc kỳ sở ðiều, biện Chân thời tắc ðắc kỳ Chân thời, vận Châu Thiên thủy chung nhý pháp thãng giáng.
Kỷ hữu bất ðắc kỳ tiên luyện, tắc thi pháp chi tế bị cựu tập sở lộng, thát loạn tiết tự.
Cố bất ðắc chung kỳ hầu.

Thuộc hàng trung hạ là hạng ngýời hồn tồn chýa hề Luyện kỷ, chứ chýa phải là hàng trung hạ của thế tục.
Còn những ngýời ðã býớc vào Tiên ðạo thì khõng cịn phân biệt ðẳng cấp.
Lúc ngýời chýa Luyện kỷ, chýa ra công Cầu lý ðến Cùng lý tức chýa có Chân ý, tợ nhý chýa có Chân sý ðiều hành, nên bị Thức thần, tức là Thần tý lự dụng sự. Thần này vốn thuộc âm, tức là tâm âm Li Hỏa Hậu Thiên.
Bất giác nhiệm Tạo hóa chi cõ nhi thuận hóa.
Ngýời ðời, mỗi khi khí Chân dýõng sõ ðộng trong ngýời, vì chẳng biết phýõng tu luyện, nên hành theo Thế pháp mà thành tồn Nhõn ðạo. Lại cón có lúc khõng vì giao cấu mà tinh khí cũng bị hao tán. Cớ sao chẳng biết lúc khí Chân dýõng phát ðộng, lại chẳng biết pháp Thể thủ qui Lý, nên ðành phải thuận theo cõ thuận hóa.
Luyện tinh bất ðắc kỳ tinh trụ: Luyện tinh tức là luyện Chân tinh hóa thành Chân khí. Có ngýời khõng biết Chân tinh, nên phải lấy ảo tinh ðể luyện, nhý vậy làm sao hóa thành Chân khí ðýợc, nên Chân tinh cũng khõng trụ ðýợc.
Luyện khí bất ðắc kỳ khí lai: Luyện khí tức là luyện Chân khí hóa thành Chõn thần. Có nhiều ngýời cũng khõng biết Chân khí là gì, nên phải dùng trýợc khí ðể luyện, nên làm sao hóa thành Chõn thần ðýợc, và Chân khí cũng khõng lại.
Bất hiệp hý vô bất ðắc Tiên: Luyện cho Tâm thật trống khõng, mới có thể luyện thành Chõn ðõn, mới có thể ðắc Tiên vị.
Tiệm pháp: Là pháp tu lần lần từng cấp, là tu từ thấp lên cao, từ cạn ðến sâu.
Luyện là ðoạn sạch lòng tham, lòng dục, ðoạn cho ðến còn một, rồi một ðến khõng. Cắt ðứt lòng luyến ái tục tình, nhý luyến ái thê tử, luyến ái cõng danh phú quý, luyến ái sự nghiệp. Cắt và ðoạn sạch hai lòng ái và dục, là Luyện kỷ ðã có lực.
Tà kiến: Tình cờ mắt trõng thấy cảnh sắc kỳ dị, hoặc thấy hào quang, hoặc thấy trong hào quang có hiện ra Thần vật, hoặc bình nhật chýa thấy mà nay mới thấy, ðó là ngoại ma. Nếu tin theo ðó thì bị ma dụ. Gọi là: Thiên ma, tà ma, yêu ma, mắt thấy hoặc Tâm thấy, hoặc mắt chẳng thấy mà tâm thấy, ðó là âm ma. Thấy mà lòng mừng ý ðẹp, lại còn ham thích trõng thấy, ðó là dính mắc với ma. Thấy mà tự chẳng thấy, nghe mà tự chẳng nghe, biết mà tự chẳng biết. Cứ nýõng theo mà chánh niệm: Ta với ma chẳng týõng can.
Bất loạn: Thủy, hỏa, ðao binh , kiếp sát, ðả mạ, mà Tâm chẳng hề loạn ðộng.
Chý ma cũng chẳng sợ sệt loạn tâm.
Chýa ðắc quyết phải lập Chân chí cầu Chân sý.
Trong thế gian này, phú quý vinh hoa, thê tử ðều có ðịnh phận, nhýng Ðại Ðạo thì chẳng phải nhý vậy, chỉ có khổ chí mà ðắc. Cổ nhân có nói: Có chí thì nên.
Thành cõng trong sự tu hành, chẳng phải lúc sanh ra ðã có phận ðịnh.
Ngýời ðời học Ðạo chẳng ngộâ Ðắc Chân truyền, là do Tâm còn giả dối. Lại còn gây chýớng ngại cho ngýời Chân tu. Cho nên họ chẳng bao giờ ðýợc thành cõng.
Nếu ðuợc Tâm hý và khẩn thiết, chấp ðệ tử lễ, hành ðệ tử sự, há chẳng ðắc sao.
Ngýời ðã luyện ðýợc tai, mắt và Thần, tức là Chân luyện.
Kiến vật bất mê: Là ðối cảnh võ Tâm, kiến vật nhi tâm bất ðộng.
Nhật dụng bình thýờng… :Luyện kỷ ðã thuần thục, sau ðó mới có thể luyện Chõn ðõn. Výõng Trùng Duõng nói: Trạm nhiên bất ðộng, hõn hõn mặc mặc, võ ti hào niệm týởng. Thử do Luyện kỷ thuần thục nhi ðắc.
Thiêu Khýõng Tiết nói: Tý Lự vi khởi, quỷ thần mạc tri, bất do hồ ngã, cánh do hồ thùy?
Tắc ðiều dýợc…: Ðiều dýợc tức là luyện cho Chân tinh hóa thành Chân khí.
Chân thời: Là Tâm chẳng ðộng mà Thận ðộng, ðó là Chân thời, tức Chân cõ và có Chân dýợc sản.
Vận châu Thiên…: Châu Thiên là Cõ vãng hành và phản phục. Thãng giáng thì có cõng phu Tấn thối. Luyện kỷ ðã thuần thục thì khõng có hôn trầm tán loạn.
Cựu tập: Là các thời quen từ lâu ðã tiềm tàng trong ngýời. Nếu luyện kỷ ðã thuần thục thì cựu tập biến mất, khõng cịn gây bát loạn Quân tâm.
Thát loạn tiết tự: Cũng là do Luyện kỷ chýa thuần, rồi hoặc biết thể thủ mà khõng biết Huân chýn, hay khõng biết Phong cố, Vận hành. Lại biết thãng mà khõng biết giáng, hoặc biết thãng mà khõng biết Mộc dục, hoặc biết Tiên Thiên khí mà chẳng biết Hậu thiên khí, hoặc khí hành mà Thần chẳng hành, hoặc biết Châu Thiên mà chẳng biết quy cãn.
Tây Výõng Mẫu nói:
Thinh sắc bất chỉ, Thần bất thanh.
Tý lự bất chỉ, Tâm bất ninh
Tâm bất ninh hề, Thần bất linh
Thần bất linh hề, Ðạo bất thành.
Luyện kỷ giả tại ý cần, nhýợc bất cần tắc Ðạo diêu dả. Tích nhật Lữ Tổ bị Chánh Dýõng Õng thập thí, chánh niệm nghi bất nghi. Hựu Khýu tổ thọ bá nạn ý Trùng Dýõng, Khổ chí nhi bất giải. Bí Trýờng Phịng thịnh tọa, ngẫu thị ðại thạch trụy ðĩnh bất kinh bất ðộng. Thử ðắc Luyện kỷ ðịnh tâm chi hiển án dả. Tinh thý dĩ cáo ðồng chí.

Chủ yếu của cõ Luyện kỷ là siêng nãng, chuyên cần từng phút từng giờ, nếu buõng lung giải ðải, thì sẽ có cái lo về Chõn ðõn tẫu tiết.
Xýa Lữ Tổ bị Chánh Dýõng Õng mýời phen khảo thí, hằng ðýa ma lại thử thách, mà tâm chẳng hề nghi ðộng, vẫn kiên quyết ðộc lập Chánh niệm.
Sau 64 tuổi theo Chánh Dýõng Õng tu luyện. Cuối cùng ðýợc thành chánh quả.
Khýu tổ lúc mới ðến gặp Výõng Trùng Dýõng. Výõng tổ bảo Khýu ãn cháo lõng. Khýu tự biết mình phúc nhỏ, nên khổ hạnh bảy nãm, liên tục gặp ma nạn, phải qua hai phen tử ma, hai lần phi thạch ðánh gẫy ba xýõng sýờn. Lại tự hiểm tử ba phen, gánh chịu nhiều ma nạn, khổ chí mà chẳng ðộng tâm, tự nãng quyết liệt tinh tu.
Khýu Trýờng Xuân ðýõng tịnh tọa, tình cờ thấy một khối ðá lớn rõi xuống ðầu, nhýng Tâm chẳng kinh chẳng ðộng.
Cũng nhý xýa ðức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ngồi dýới cây Bồ ðề, Ma výõng Ba tuần lãnh ba vạn ma chúng, dùng binh qua dọa Phật, mà chẳng ðộng, dùng ma nữ dâm sự dụ phật, cũng chẳng ðộng. Phật vẫn ngồi, ngồi mãi thật kiên cýờng vững chắc. Ngài tự nghĩ: Ta quyết ðịnh ngồi mãi nõi ðây cho ðến ngày thành Phật.
Còn tiếp....
Xin chào Bác Daoky và các Bác, Anh Em!

Cám ơn Bác Daoky đã bỏ nhiều thời gian để giúp chúng ta hiểu thêm nhiều về Thế giới Bí Ẩn. Phần về Thiền bác Daoky đề cập đến gần đây thật Tuyệt!!! Những điều tổng kết, phân tích về Ý nghĩa, Vận Hành, .... gắn liền với y học cũng như tâm lý cua Bác rất sâu sắc cho những người muốn tìm hiểu Thiền và theo đuổi những lời giải thích!

Hơn thế nữa, văn phong của bác Daoky giúp chúng ta - ít nhất là những người ít hiểu biết về lĩnh vực này như tôi - dễ cảm nhận và dễ hiểu hơn. Bạn có thể cũng sẽ tâm đắc với một câu trích đoạn từ bài viết vừa qua của bác Daoky (phần tham khảo một vài bài luận của các bậc Tiên Nhân):

"... Cổ nhân xảo dụ nhiều danh từ khác nhau, nên hậu học tìm mãi mà chẳng thấy ..."

Một lần nữa xin có lời cám ơn Bác Daoky và mong được tiếp tục đọc nhiều bài viết của Bác.

Chúc tất cả các bạn một tuần mới nhiều niềm vui.
Huynh Daoky kính thân,

Cho đệ xin hỏi nhỏ một câu: Nếu ngồi Thiền không dùng Ý dẫn Khí theo vòng Tiểu - Đại chu thiên, nhưng chỉ quán sát hơi thở một cách tự nhiên thì có sao không và tác dụng so với dùng Ý chủ động dẫn Khí ?
Rất mong Huynh giúp Đệ.

Kính !
Pháp Vân
Em thì hiểu biết không nhiều chủ yếu ðýợc nghe ngýời khác truyền kinh nghiệm cho, lại chýa có thực tế. Em chỉ có vài ý kiến thế này.
* Nếu theo quan ðiểm của Nhân ðiện.

- Khi bắt ðầu ngồi Thiền thì Ý dẫn Khí. Có nghĩa là dùng ý nghĩ ðể ðiều dẫn khí trong cõ thể theo Tiểu - Ðại chu thiên
- Sau khi ngồi Thiền ðã vững vàng(thời gian khá lâu) rồi thì chuyển sang giai ðoạn Khí dẫn Ý. Lúc ðấy cứ luồng khí trong cõ thể ðã ði theo 1 ðýờng mòn nhất ðịnh khi ðó ngýời luyện Thiền không cần phải chú ý ðến hõi thở mà ngồi tĩnh tại. Khí vận chuyển theo Tiểu - Ðại Chu Thiên làm cho ý nghĩ con ngýời ðýợc giản ðõn, làm cho con ngýời sảng khoái và minh mẫn hõn.

* Nếu theo Phật gia

- Lúc bắt ðầu ngồi chỉ là thiền Thân, nghĩa là ngồi tĩnh tại
- Tiếp ðến là bỏ hết ý nghĩ trong ðầu, lúc này chỉ có hõi thở là tác ðộng ðến sự tĩnh tại của ngýời ngồi Thiền. Nếu thiền Thân mà tốt có nghĩ là Thân tĩnh thì hõi thở sẽ ðiều hoà, thở không mạnh cũng không nhẹ. Ngýời ngồi Thiền ðến giai ðoạn này là bỏ lại những ý nghĩ ðời thýờng hàng ngày, ðầu óc trống rỗng.
- Cuối cùng là hõi thở gần nhý không có lúc ðó ngýời ngồi Thiền không còn výõng vấn gì cả, hoà mình vào vũ trụ bao la


Mong các cao thủ bỏ qua nếu có gì sõ sót. Em chỉ trích lại kinh nghiệm của nhiều ngýời ðã ngồi Thiền nhiều nãm thôi ạ. Hic xấu hổ quá
Hi all!
Cha`o Pha'p Va^n & CDMT !
Phương pháp thì có nhiều phương pháp chứ không phải có Thiển Tỉnh, Thiền Động mà thôi, có nhiều Tông phái họ chỉ day cho các môn đệ cách quán chiếu tư tưởng, có tông phái lại dụng tư tưởng quán đến các vị Thiêng Liêng Tiên Phật, Thánh Thần .v.v., Có tông phái lại dụng Thoại Đầu để đánh thức giác tánh. v.v.
Tuy Nhiên ở đây DaoKy nói đến Thiền Động vận hành Tiểu Đại Châu Thiên, mục đích làm khởi phát năng lực, khi có năng lực thì việc hành trì dài theo thời gian sẽ không bị trở ngại do bệnh tật, hơn nửa chúng ta cần năng lực để khai mởi các năng khiếu trong bản thể.
Nên một pháp thiền đầy đủ cần có THiền , Tịnh, Mật, có đủ ba điều này thì hành giả thực hiện trong một thời gian nhất định thi dụ :
-Thiền động 45 phút
-Mật Tâm 20 phút.
-Tịnh 25 phút.
( Cộng chung là 90 phút )
Toàn bộ Tu Luyện hành trì của chúng ta trong thời kỳ Bế Quan Đại Tịnh Trúc Cơ ( Đấp nền) là 81 ngày hay 100 ngày.
Sau đó chỉ mỗi ngày công phu vun bồi 4 thời : Tý, Ngọ : Mẹo ,Dậu.
Mỗi năm phải có 81 ngày bế quan tỉnh toạ, có Lịch trình hành trì các bài pháp theo từng giờ, và 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mổi mùa tu chỉ có 15 ngày . Ngày thường thi cứ giử 4 thời mà thôi!
Cho nên chúng ta phải hiều thời nào Tấn Dương Hoả, giờ nào Thối Âm Phù. Khi con cơ bản trúc cơ thì biết thế nào lấy đơn dược, để phong cố để tịnh luyện thành Kim Đơn.
Khi " Nhất hào Dương sơ động" là lúc nào, để lấy thuốc ? Cho nên cần phải có chân sư dẫn dắt rèn luyện, trong thời gian này có những bạn đạo sẽ Hộ Tịnh cho các bạn không phải làm gì cả, chi ngồi tu mà thôi!

Nếu các bạn nào muốn tu tiến Đơn Đạo mời gặp DaoKy để tìm hiểu thêm về phương cách tu luyện. Vì trong Pháp Đạo có Mật Chỉ nên không thể trình bày ra đây mong các bạn thông cảm!
Những phương pháp các bạn vừa nêu lên đó chỉ là tỉnh tâm mà thôi, chưa phải gọi là Tu Luyện Thiền Định. những điều này không hại gì cả, nhưng không đạt tiến hoá tâm linh thâm sâu, vì tướng, tâm.
Vài hàng gửi đến các bạn. Chúc các bạn An Lạc. Thân.
DaoKy


HẬU NGUY HIỂM THUYẾT

Từ xưa các cổ thư đã có nhiều dẫn giải nhưng chưa nói hết về thuyết nguy hiểm. Cho nên hàng Tu sĩ hậu học muốn cầu về chỗ toàn quyết, toàn hỏa, càng là sự khó khăn trong việc học! Rồi dẫu có theo dõi đến bước cuối cùng cũng chẳng thành công, há chẳng than thở sao?
Cho nên ta mới làm ra thuyết nguy hiểm ở trước, là để bổ túc những chỗ mà Kim Tiên Chứng Luận và Huệ mạng chưa nói đến để giúp cho những người đã khổ chí đắc được công pháp hạ thủ điều dược và Tiểu Châu Thiên.
Trong thiên đó có nói về “ Ngưng Thần” là ngưng nơi chỗ “Đạo tâm”. Đạo tâm mà được cơ hấp tụ của Nhơn tâm, thì Nguyên khí tụ mà chẳng tán, làm công phu cho “ Vựng dược” ( Kết Thánh thai), là cốt tủy của song tu Tánh Mạng.
Thần đã ngưng trụ nơi Khí huyệt, mà Thần của Khí huyêt lại chẳng biết sao.
Biết được cơ hô hấp của vãng lai, đó là Phong hỏa luyện tinh.
Thần lại không được buông linh ra ngoài, hơi thở cũng chẳng được đứt đoạn. Thần với tức (Hơi thở) cùng nhau luyện, động tịnh cùng nhau nương, chẳng ra khỏi phạm vi, chẳng chấp ở vô hữu, đó là Chân quyết hóa tinh.
Lại còn phải biết về Thần an nơi chỗ dương động để phối hợp với Thiên cơ.
Thần không được lìa khí. Chỗ sở tại của khí hóa, cũng là chỗ sở tại của Thần an.
Trong Thiên lại nói: Võ hỏa là diệu quyết để thể dược, luyện dược luyện âm tinh và dâm tinh, là bí cơ hô hấp cả trong lẫn ngoài, cho nên gọi là hạp tịch.
Cơ huyền diệu là ở tại hai khí.
Công phu nghịch dụng gọi là: Thể ngoại dược.
Luyện là luyện hóa Chân tinh đã có thành Chân khí. Là trong huyền quan, theo huyền cơ lấy Chân ý mà cổ động hơi thở để thổi gọi là Hạp tịch. Tức gọi: Cổ động gió Tốn để vận lửa Khôn.
Lại nói: Phong luân kích động sản Châu Diên. Là do âm tinh trong Khảm Thận khó chế phục, mới dùng Phong hỏa để thuần dương hóa.
Thần với Khí cùng ma sát và kích thích nhau, tợ như hai vật ma sát nhau mà ra lửa.
Ngô nhất Tử nói: Muốn lóng xuống cho thanh tịnh, trước phải kích tích ở cơ động. Thật là lời diệu quyết, là chỉ hướng nơi Huyền quan có cơ màu nhiệm của Tinh khí Thần tưong động tương kích.
Lư nội Thần vời Khí đã nung nấu với nhau không được ngưng nghĩ. Về gió thì chẳng được ra ngoài, cũng không được lìa khí. Thần với Khí đồng hút nhau, như thư hùng giao hợp. Theo lúc này hai thành phần âm dương cũng tận quy chỗ này.
Nếu như đắc được pháp Điều dược thì lo gì tinh chẳng hóa, dâm dục chẳng chết, Chân chủng chẳng sản.
Lại nói: Sở dĩ phải luyện âm tinh vì: Con người ăn ngũ cốc và hàng trăm mùi vị nên hóa thành âm tinh.
Thiền sư Hoa dương nói: Tân dịch là vật Hậu Thiên tư dưỡng ngũ tạng, đều thuộc loại cặn bã, ngày đêm tư nhuận châu thân. Lúc đến Đơn điền thì hóa thành âm tinh. Tinh này hằng tác quái gây bát loạn Tâm quân, dẫn đông Nguyên khí tán tiết!
Sở dĩ có chủ trương Luyện , là do biết trước có hoại cảnh đến. Trước nên lấy Thần hỏa hậu Thiên an trụ nơi Lư trung, gọi là hỏa chủng dẫn hỏa. Sau đó khiến Thác thược cổ động gió Tốn. Lấy gió quạt lửa, lấy lửa này mà cổ động Chân hỏa Tiên Thiên. Hai Lửa củng ma sát với nhau cùng kích động nhau mà dương hỏa thắng âm tinh, dung hóa khắp châu thân. Như vậy còn lo gì âm tinh chẳng hóa ra, ma quái chẳng diệt, Đạo chẳng thành.
Lại nói: văn hỏa là Thần Với khí đồng cùng định và bất động,.
Chân nhâ n nói: Công việc đầu Tiên của sự tu luyện là lặng thấu nơi vựcsâu, giấu kín cái ánh sánh để nuôi duỡng cái tối. Sau đó mới có thiên dụng.
Đã nói: Chẳng động mà lại còn nói: văn hỏa. Tại sao vậy?
Thần khí tuy nói; Chẳng động mà cái khí hô hấp tại chỗ xuy khư miên miên bất động.
Cổ nhân nói: xuy khư, nói: Oân dưỡnglà Chân ý phải định mà còn có xuy khư.
Cái chỗ mà Lửa được gió, là do công phu thổi Lửa khong ngừng. Thuốc đã lạnh hơi Lửa dung hóa mà ôn noãn lại. Cho nên gọi: Văn hỏa và Võ hỏa là đích chỉ điều dược.
Thuốc đã được điều lá có tự sản, chẳng nên bỏ Võ mà dụng văn sao?
Chẳng biết lúc duợc sản, thì cơ hô hấp của Văn Võ hỏa vô sở dụng. Cho nên nói: Dịnh hơi thở để chờ khí Chân Diên sanh.
Còn đã nói: Chẳng dùng cái Lửa hô hấp, mà dược lại phát sinh, há không bị tá thất sao?
Cơ mầu nhiêm là tại Thần khí trong ý chỉ, tương tựu, tương chiếu, tương cố.
Đúng lúc này là phải biết thuốc già hay thuốc non, và khí Chân diên phát sinh chậm hay mau.
Lại còn phải ai khấu nơi Chân sư về cơ bí truyền tương hiệp tương ly.
Cơ Thể Thủ đâu dám vọng khinh tiết lộ.
Nhưng về Chân quyết của Thể thủ là nếu chẳng dùng Võ hỏa thì Chân dược làm sao quy Lư.
Còn cái hỏa thăng giáng, là kiêm dụng Văn Võ nên nói: Nhu hi biến cương. Cương nhu nải đơn đạo chi diệu chỉ.
Cũng như về thời Lục dương, hễ cơ hấp vào thì Chân khí thăng, gọi là Võ. Nhưng cơ hấp trở về mà định thì gọi là văn.
Còn thời lục âm, hễ cơ hô ra thì Chân khí tối và giáng xuống, gọi là Võ.nhưng cơ hấp vào gọi là định, tức thuộc văn.
Cho nên nói: Thời thời hữu Mộc dục.
Hai giờ mẹo Dậu đều bỏ Võ mà dụng toàn Văn liên tục. Trong hơi thở có hơi thở ngầm.
Hơi thở là cái cơ nuôi dưỡng sanh và sát.
Còn giờ Tí và giờ Ngọ thì cơ huyền diệu ở cung thăng giáng.
Lại nói: Có cơ Mộc dục, gọi là một giờ tám khắc, mà một ngày có trăm khắc, gọi bốn khắc này tức thuộc về pháp Mộc dục.
Còn Văn hỏa huân chưng bổ trợ, là đích chỉ dưỡng Đơn, là công phu phản chiếu.
Lúc Đơn đã thành thỉ bỏ Võ hỏa mà chỉ dùng văn hỏa gọi là pháp huân chưn dưỡng Đơn.
Gia Khánh năm thứ tư, trước tiết đoan dương 5 ngày.
Hoa Dương Thiền sư viết tại bắc kinh chùa Nhân Thọ.


TĂNG CHÚ THUYẾT

Sách mà còn phải chú tích, về chính sách đó chưa chưa nói hết phần Chân chỉ tàng mật.
Còn về sự khai phá từng chương và lập thuyết, tất trước đó đã đưọc Chân sư trao truyền, nên sự và lý đã thấu triết, công phu của ta có chỗ thành, sau đó mới dám phát biểu hiển nhiên minh bạch, đối với tiền thư không mảy sai lệch, tức gọi là chú. Nếu sự và lý chẳng thấu triệt, công phu không có chỗ thành, rồi lát thời Văn sáo ngữ, mạo vọng biên soạn, rồi kinh riêng kinh, chú riêng chú, thì sao gọi là Chân chú
Cũng có loại kinh thư chẳng cần chú thích nữa, vì chính bản đã hiển nhiên, đã rõ ràng, nào phiền vẽ rắn thêm Chân, là tái chú.
Đạo hiệp với Chân cơ của Tiên Phật, đem công dụng đã có hiệu nghiệm, thật là Lưong phương của cả hai Giáo môn về đăng đuờng ( Sơ nhập) và nhập thất ( vào tâm phát).
Chẳng phải do ta hiểu sự, là làm trái ý về sự vọng chú của hậu nhơn.
Lời quyết được phản phúc minh bạch, lập đi lập lại về Chân cọng của hiển tu, là thiệt sự vi tế của Tiên Phật, không một chữ, một sự chẳng tận tiết, đó là nói về hai quyển kinh này.
Sách này được bảo toàn hai nhà Tiên và Thích.
Thấu triệt tận căn nguyên, chẳng ra ngoài Đại Đạo mà là đồng quy cứu cánh lấy tánh mạng con người.
Danh tuy là Tiên là phật, mà Chân công sơ dụng chỉ có một mà thôi.
Sở dĩ tôn sư đã tập thành Chân kinh này, nguyên là muốn cho những người đồng tông đuọc nương theo con đường tốt đẹp, mà chẳng mất Tánh Mạng, khỏi bị lạc rơi vào nẻo kiến tập thiên khô và chỉ trong kiếp này mới được thành Đại Đạo.
Cảm tạ ơ chûỗ là chẳng còn phiền muộn là thiếu Thầy mà bị thêm tăng vọng chú.
Lấy đó mà răng vây, chớ nhọc tái chú.

HOA DƯƠNG THIỀN SƯ
(luợc bỏ) &nb sp; &nb sp;
HUỆ MẠNG KINH
(luợc bỏ)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 11:03 am

TẬN NGÔN ĐẠI CHÂU THIÊN

DỊCH GIẢ : Huệ Từ ( Nguyên Bảo Pháp Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan Bình Định )

LỜI TỰA
Hoa Dương Thiền người làng Hồng Đô, mộ Phật từ lúc còn nhỏ. Nguyện vào chốn Phật cho nên mãi bảo hoài, tức được thất Tăng lòng mừng hớn hở.
Một hôm được nghe Trưởng lão nói: Xưa đức Ngũ tổ vào lúc canh ba riêng trao bí pháp cho Lục Tổ. Có người ở phòng bên cạnh được nghe. Lòng rất hân hoan vì được nghe rõ, tợ n hư nằm mộng mà biết sự thật. Từ đó mới biết các bậc tu luyện đều nhờ Thầy truyền rồi quyết taq6m mãi mãi.Chân dày gai góc, nơi nào cũng đến mà chưa được gặp! Sau đó mới vào Hòan Thủy, tới chùa Song Liên. Lòng buồn vô hạn, tóc rụng càng tăng, mới hỏi lấy lòng: các vị Thầy trong tam giáo, là ai là chẳng tham cứu kinh thơ, đều không ngoài Chân chỉ của Huệ mạng.
Nhân đó mới than rằng: Thân người khó được,m sao nỡ luống không! Thoạyt phát một niệmvào những buổi chiều, hai gối 5 thể đều gieo xuống đất, minh thê chí thành, khấu đầu cầu đấng Thương Xanh mong cầu cho được toại nguyện.
Sau đó nữa năm, may gặp đực Hồng xung hư Tổ sư, truyền cho ta í chỉ, ta mới hoát nhiên thông ngộ, mới biết cái đạo Huệ mạng và linh vật sở hữu của ta.
Tiếp đến Khuông lô, lại gặp Hồ Vân Lão sư, trộm nghe người đàm luận mối mang, mới biết là bậc phi thuờng, mới quyết chí siêng năng khẩn cầu nghe chịu.tiếp đó là sự khẩn cầu ai thiết, do đó Thầy ta mới động lòng đại phát hồng từ, khai ngộ vi mật bên trong ác khiếu, thảy thảy ta đều thống triệt.
Rồi một ngày kia ta phải ra đi, Thầy ta có dặn: Phật giáo song tu nay đã mất rồi!. Con nên tiếp tục theo pháp mạng mạch để lộ những người có duyên.
Ta đến ẩn tích ở Giang Tả cùng với ba người bạn, theo đó mà tinhb tu và khẩn truơng tham cứu.
Lại nhân được gặp Bích Thiềm, Liễu Nhiên, Quỳnh Ngọc,và Chân Nguyên, khổ tu đã thành Xá Lợi, mặc khế sư truyền, tập nhóm sách này mệnh danh là: “Huệ mạng kinh”. Trong kinh có vẻ ra một số đồ hình gọi là Tương pháp để minh thị phần bí mật của Thien cơ, kinh nầy nhằm khải thị về phần huyền cơ bí yếu, tiết lộ nguyên cơ của Tổ sư để làm phương tiện cứu vớt hậu họa khỏi bị rơi vào tà đạo.
Ta thấy ngày nay người mong cầu Chánh đạo, lại gặp ở phần tông ngữ lục, có Chân tiệt, có vọng ngữ, lại vì hạ học nên chẳng biết cái đạo Huệ mạng của Như lai, khiến phải ngộ nhậpsáo ngữ!. Cửa khẩu thiền, cuối cùng cũng bị cái hạ của kẻ hạ ngu chuyển trao ngữ lục!.
Ta đã ra công duyệt khảo các loại Chân kinh. Với sưb truyền ấn chứng, với Lăng nghiêm kinh, Hoa nghiêm kinh, Pháp bảo đàn kinh, đều là thiệt ngữ, đều là Chân tryền.
Còn về các loại, như Thiền sư ngữ lục, Hòa thượng ngữ lục, đều là vọng ngữ.
Luyện tu theo Chánh đạo, nếu chẳng phải thiệt ngữ, tghì lấy gì để chứnh mimnh là Chân lý.
Chẳng phải thiệt ngữ thì lấy gì tịch trừ hư vong. Hư vong thắng thì ma chướng sinh. Tuy là người Trí hiền cũng không biết chỗ nào để tung nhập.
Như vậy, trăm ngàn năm sau, cái đạo thânm bí riêng truyền khó mà dòm thấy!
Nay là dùng lời trót lọt, đem của báu của Phật tự truyền, hoàn toàn nêu ra, khiến cho người tu học khi xem đến Huệ mạng kinh, tợ như thân khẩu tương truyền.
Chỉ cần gắng chí tinh cần, bất tất tha sơn cầu trợ, Phật quả cũng có thể chứng.
Đây là sự khổ tâm của ta đối với bản nguyện, cầu Chân sư hiểu thông Chánh đạo.
Càn long, Giáp dần, mùa Hè, tại Hồ trung, Truyền Lô, Liểu Hoa Dương viết tựa, nơi Hoàn Thành, Trung khiết am tự.


MỤC LỤC
Lậu tận đồ
Lục hầu đồ
Nhâm Đốc mạch lạc đồ
Đạo, thai đồ
Xuất định đồ
Hóa thân đồ
Diện bích đồ
Hườn hư đồ
Tập thuyết Huệ mạng kinh
10-Chánh đạo tu luyện trực luận
11-Chánh đạo công phu trực luận
12- Chánh đạo Thiền cơ trực luận
13- Tạp loại thuyết
14- Quyết nghi.


TỐI THƯỢNG NHẤT THỪA HUỆ MẠNG KINH

-Giang Hữu, Chu Lâm Kiều, Truyền lô Lư, Liểu Hoa Dương soạn và chú.
-Sơn âm hậu học Nhất dương tham đính.

LẬU TẬN ĐỒ

Dục thành Lậu tận Kim cang thể
Đinh chiếu mạc li hoan hỉ địa.
Cần tu phanh luyện Huệ mạng căn
Thời tương Chân ngã ẩn tàng cư.

Cơ tinh vi của nền Chánh đạo, không gì bằng tánh mạng Tánh mạng.Tu luyện về tánh mạng không gì bằng quy nhất.
Cổ chánh, cao hiền đem cái Chân chỉ Tánh mạng quy nhất xảo dụ là ngoại vật, chẳngkhứn minh thi thì trực luận. Cho nên đời sau không biết Song tu.
Ta lập ra đồ hìh này chẳng phải dám vọng tiết.
Chính đồ hình này là Cơ lậu tậnTôn Lăng nghiêm kinh, là nêu ái áo chỉ của Hoa nghiêm, là tập nhóm lời rãi rác của chư kinh, mới tập quy thành Chánh đồ này.
Do vậy mới biết huệ mạng chẳng ngoài Tổ khiếu huyền quan.
Lý do thàn lập ra đồ kinh này, là mong cho cái Đồng chí, cái Chí sĩ, hiểu rõ được Thiên cơ song tu này, chẳng bi đọa lạc bàng môn.
Từ đó mới biết: Chân chủng do đây mà được bảo hoài, lậu tận do đây mà thành, Xá lợi do đâymà luyện, Đại đạo do đây mà nên.
Tổ khiếu này vốn là cái hạng hư vô, vô hình vô ảnh. Chân khí phát ra thì thành khiếu. Thiên cơ dừng lại thì mờ mịt. Là chỗ tàng Chân. Là nềnmóng của Huệ mạng, tên gọi: Hải để, Long cung,tuyết sơn giới địa, Tây phương, Nguyên quan, cựu lạc quố,, vô cực hương…
Tên tuy có niều, chung quy cũng là một Tổ khiếu huyền quan.
Tu sĩ nếu chẳng minh được Tổ khiếu này, dầu cho ngàn sanh muôn kiếp, huệ mạng cũng không tầm được, Tổ khiéu này n lao.
Cha mẹ chưa sanh thân này, lúc mới thọ vựng truớc Tiên là sanh khiếu này, tánh mạng cũng thiệt ngụ trong đó. Lúc này hai thàn phần này vốn dung hiệp lam mọt, sáng chói rực rỡ tợ như loại Lửa trong lò. Tượng nên một khối thái hòa thiên lý, cho nên gọi: Tiên Thiên hữu vô vùng chi Tiêu tức. Còn nói: Trước khi cha mẹ sinh ra thân này, thì Chân khí sung mãn, thai vựng viên dung.
Đến lú c thoát thai mà ra, thân hình cử động xé rách bào thai, tợ như người leo lên núi cao bị trượt Chân , thình lình ré lê một tiếng, thì Tánh và mạng đến đây bị phân làm hai. Từ đây về sau, Tánh chẳng được thấy mạng, Mạng không được thấy tánh. Rthiếu niên rồi tráng niên, rồi lão thành. Lão rồi ô hô!.
Cho nên Như lai mới phát đạin từ bi mà tiết lậu pháp môn Tu luyện. Dạy người trở lại bào thai, cùng thẳng tới Cjhân tánh mạng của ta, đem Thần Khí ta quy nhập về Tổ khiếu hiệp lại làm một, để thànhChân chủng, tỉ như tinh khí của cha mẹ nhập vào khiếu này, hiệp lại làm một để thành thai vựng, Lý vốn có một.
Trong khiếu thì có Quân hỏa, ngôi đầu có Tướng hỏa, châu thân là Dân hỏa.
Quân hỏa phát thì Tướng hỏa thừa. Tướng hỏa động thì Dân hỏa tùng.m tam hỏa thuận hành thì thành người. Tam hỏa đi nghịch thì thành Đạo. Thánh phàm do đây dấy lên. Chẳng tu theo Đạo này,, mà tu theo nẽo khác thì vô ích.
Cũng vì Thiên môn vạn hộ không biết khiếu này, trong có Huệ mạng chủ tể, nên tầm bên ngoài, tận phí tâm cơ cũng vô thành./.

LỤC HẬU ĐỒ

Thiếu thời thành Lục hầu
Đại đạo tùng trung xuất
Nhất khắc hội nguyên đầu
Nguyên cơ mạc ngoạin cầu.
Phân minh Phật tổ nguyên đầu lộ.
Pháp luân hấp chuyển triều Thiên giá
Hiện xuất Tây phưiơng Cực lạc thành
Tiêu tức hô lai vãng địch quy
Cơ diệu dụng của Chánh đạo không gì sánh bằng pháp luân. Châu thiên vận hành theo đường tắt,không đường nào bằng đại lộ. Châm hay nhanh chẳng theo cấp bậc, không gì bằng quy tắc. Số hạn chẳng sai thất, chẳng gì bằng Hầu pháp.
Cả đầy đủ pháp môn, mới nương theo đó mà từ tây lai. ( Tây trạch). Chân diện mục hoàn toàn ở tại nới này.
Cơ huyèn diệu ở nơi rong, lúc hành trình phải lấy hô hấp làm chủ. Cơ tiêu tức vãng lai chính là hạp tịch. Chẳng đi ngoài đạo lộ là do Chân ý làm chủ.
Có chỗ khỉ chỉ,đó chính là giới địa.
Chẳng vì cá ngã mà là vị tha, nên mới toàn bị đồ nầy, toàn tiết thiên cơ. Tục nhiơn phàm phu mà đạt ngộ được,tất sẽ thành công. Giả như có người còn thiếu đức, mà được gặp, Trời cũng không phụ.
Đức đối với Đạo như chim có cánh, Thiếu một tức vô dụng. Tất phải Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa…
Ngũ giới tinh tấn, sau đó mới có chỗ hy vọng.
Còn trong Tinh vi áo diệu, trọng đủ trong kinh Huệ mạng, và kim Tiên Chứng luận.
Tham học cho suốt thông hai quyển kinh nàythì nhất định sẽ nắm đợc Chân truyền.


3/NHÂM ĐỐC NHỊ MẠCH ĐỒ

hiện xuất Nguyên quan tiêu tức lộ
Thườ giao hỏa dưỡng trường sinh quậc
Hưu vong bạch mạch Pháp luân hành
Kiểm điểm minh châu bất tử môn.
Đồ hình này với hai đồ hình truớc nguyên là một.
Tại sao lại vẽ thêm đồ hình này?
Là sợ người tu học không biết được đuờng đạo lộ, trong thân mình là đường Pháp luân, cho nênmới vẽ thêm đồ hìh này để các đồng cjhí được thấu hiểu.
Người nào thông hiểu đuợc hai mạch này thì trăm mạch cũng đều thông.
Con Lộc lúc ngủ thở đến gian môn. Con Hạc, con Qui ngủ thì thở đến tận gốc của mạch Nhâm. Do đó chúng sống đến ngàn tuổi. Còn con ngườilại…?.
Tu sĩ tu luyện phải chuyển Pháp luân để vận Huệ mạng, lo gì chẳng được trường thọ và thành Chánh quả.

ĐẠO THAI ĐỒ

Thập ngoạt đạo thai hỏa.
Nhất niên Mộc dục ôn
Hữu pháp vô công cần chiếu triệt.
Vong hình cố lý trợ Chân linh.

Đồ hình này biểu thị cái diệu chỉ của kinh Lăng nghiêm.
Tục tăng chẳng biết Đạo thai, do cái lỗi lúc đầu chưa tiếp nối với đồ hình.
Nay mới xuyển dương, tu sĩ tất biết được Như lai có công phu Đạo thai Chân thật ở tại đây.
Thai đây chẳng có hình có tượng, mà do một bửu vật mà thàh ra thạt. Tức là Thần khí của ta.
Trước vận Thần nhập vào khí huệt. Sau đó mới dùng Chân khí mà bao lấy Thần. Thần khí tương kết, mà ý thì Tịch nhiên bất động, nên gọi là Thai.
Chân khí có ngưng tghì dau đó Thần mới linh.
Cho nên lời kinh nói: Thân pụng giác ứng.
Hai khí bồi dưỡng nên nói: Nhật ích tăng trưởng.
Khí túc thai viên, thì theo thương điền là Nê, hườn cung mà ra, nên nói: Hình thành xuất thai thân vi phật tử.

5 XUẤT THAI ĐỒ

Thân ngoại hữu thân danh Phật tướng &n bsp; Niệm linh vô niệm tức Bồ đề
Thiên diệp Liên hoa xuất khí hóa
Bá quang cản diệu giả thần ngưng.

6/ HOÁ THAN ĐỒ
DIỆN BÍCH ĐỒ
HƯ KHÔNG PHÂ TOÁI ĐỒ
DIỆN BÍCH ĐỒ

Tánh quang phản chiếu phục nguyên Chân
Thần hỏa hóa hình không sắc tướng.
Tâm ấnhuyền không nguyệt ảnh tịnh.
Phiệt châu đáo ngạn nhật quang thanh.

HƯ KHÔNG PHẤN TOÁI ĐỒ

Bất sanh bất diệt võ khứ vô lai
Nhất phiến quang huy châu thế giới.
Song vong tịnh tịnh tối linh hư
Hư không lãng triệt Thiên tâm diệu.
Hải thủy trùng thanh đàm nguyệt dung.
Vân tán bích không sơn sắc tịnh.
Huệ quy thiền dịnh nguyệ luân cô

HÓA THÂN ĐỒ

Phân niệm thành hình khuy sắc tướng.
Cong linh hiển tích hóa hư vô.
Xuất hữu nhập vô thừa Diệu đạo .
Phân hình lộ thể cọng Chân nguyên.

XUẤT THAI ĐỒ.

Lăng nghiêm chú: Lúc bấy giờ, đức Thế tôn từ Thượng đơn điền phóng ra trăm báu hào quang, ánh quang phóng xuất ngàn lá sen báu, có Như Lai tọa trong bửu hoa. Còn trên đỉnh đầu thì phóng mười đường bá bửu quang minh, thị hiện khắp cả. Đại chúng ngửa xem. Phóng quang Như lai tuyên thuyết thần chú, tức là dương thần xuất hiện, cho nên gọi: Phật tử.
Chỉ vì chẳng đắc được cái đạo huệ mạng, nên bị khô tịch khẩu Thiền, làm sao có được cái tự thân của Như lai ngồi trên bửu hoa này, và phóng ra pháp quang rực rỡ xuất hiện.
Còn có kẻ nói: duơng thần thuộc Tiểu đạo, thì cái đạo của đức Thế Tôn cũng là Tiểu đạo sao?
Đồ hình này tiết lộ bí mật của lăng nghiêm để hậu họa được rõ cái đạo này, lập tức siêu phàm nhập Thánh, mãi mãi chẳng bị đọa lạc nơi chốn phàm trần.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 11:07 am

HUỆ MẠNG KINH

Giang hữu, Lâm lâmKiều, truyền Lô, Liểu Hoa Dương soạn, chú.

TẬP THUYẾT HUỆ MẠNG KINH

Hoa dương viết:thành Phật tác Tổ thị bảntánh linh quang, bất ắc huệ mạng lậu tận, bất đắc liễu đạo, trực nhập ư Như lai chi thái không.
Bản tánh, linh quang, danh tuy hai nhưng nguyên đầu là một.
Tại tịnh định thì gọi là tánh. Huệ chiéu vào trong tịnh định thì gọi là Linh quang.
Huệ mạn g là diêu pháp thể thủ đầu Tiên của Như lai, là mượn đan để khải thị cho người tu học.
Là phạn ngữ cũa Tây phương. Trung Hoa gọi là cái Bổn nguyên của con người. ho gọi Tiên thiên Chân khí.
Đó là phưong tiện tu Phât, là quyền bĩnh tác Tổ. Thầy mạnh Tử gọi: Thiện dưỡng Hạo nhiên chi khí.
Lậu tận là cái danh, do đức Thế Tôn dùng để khải thị cho A Nan, cũng là Phạn ngữ của Tây phương. Trung Hoa gọi là tẩu lậu. Nho gọi là tẩu tinh. y học gọi Tiết Nguyên khí.
Lậu tận là cơ bién hóa của Huệ mạng.
Thiên cơ trong người lúc chưa phát động, vốn là Chân mạng. Cho đến lúc Thiên cơ phát động mà không biết, nên nó hóa thành hữu hình tinh mà xuất quan, gọi là lậu tân.
Tình huống đó, nhà Nho gọi là khí hóa tinh.
Trong thuở đồng că mạng vốn kiên cố, vốn không có tình trạng lậu tận, Thập quang vốn viên dung rực rỡ. Lúc này nếu gặp được Chân sư, chẳng cần dùng pháp Thể thủ lậu tận mà chỉ vận khối viên dung sáng rỡ đó thâu quy trung cung với công phu: Thời thời tỉnh ngộ, khắc khắc giác chiếu, hộ trì mười tháng Đạo thai, tức lăng nghiêm kinh gọi: KÝ du đạo thai, thân phụng giác ứng.
Công phu siêng năng, Chân kí sung túc,tự nhiên sẽ được xuất thai.
Đạt đến pháp thân quảng đại, lăng nghiêm gọi hình thành xuất thai, thân vi phật tử.
Đó gọi là Đốn pháp.
Nếu những người đã đến Lứa tuổi 16 trở lên,.
Lúc mới 16 tuổi thì mạng báu mãn túc.Túc mãn thì có lậu! Từ dó về sau, lậu lậu không dừng! Cho nên đức Như lai gọi là lậu tận.
Người đời họa phật, nếu chằng hư tâm cầu cho được bậc Chân sư chỉ điểm Chân quyêt hỏa hóa mà cứ theo: Tham thiền , đả thất, trường tọa hành trì, thì vạn vô nhất bảo.! Đã vạn vô sở bảo tì làm sao thành công trên đường tu học được.
Cho nên Hoa Nghiêm kinh nói: Chẳng cầu pháp huyền diệu này, cuối cùng cũng kính giử không chứng quả Bồ đề. Cho nên đấng Như Lai mới phát quả đại Từ bi, khải thị cho người hạ thủ, tiếp tục pháp Thiêm du, để bổ túc cho khốiThần quang viên dung sáng rực thuở xưa của Huệ mạng, trở lại quy về Trung cang.
Đó gọi là Tiệm pháp.
Cho nên đưc quang minh như lai mới nói:
Lão căn hội tiếp vô căn thọ
Năng tục vô du hải để trừng.
Lại phải thật siêng năng tu luyện, vì chẳng phải một sớm một chiều mà thành Chánh đạo.
Cho nên đức Thế tôn mới bảo A Nan: Đệ nhất lậu tân nan thành!.
Lậu tận là biệt danh do Phật thí dụ, là pháp song tu Tánh mạng.
Nếu chỉ tu Tánh mà không luyện Mạng thì tập khí khó tiêu. Dẫu cho có đạt được cái Tướng đồ sộ cũng chỉ thành Quỷ ngũ thông, chẳng được khế hạp với Lục thông của Như Lai.
Cho nên Đại Phật phương đẳng Đại Tập kinh mới nói: Chỉ tu tập theo ngũ thông, làm sao đắc được Lậu tận. Là lý do làm sao?.
Cũng vì lòng bi mẫn của Như Lai đối với chúng sanh, nên mới đem pháp Lậu tận thông ra khải thị, để người được thoát ra khỏi cõi phàm phu tục địa.
Thái không: Là Pháp tánh viên dụng hư cực.
Cho nên Liên Hoa kinh cò nói: Thánh như hư không. Tức Thiệu khuơng Tiết Tiên sinh nói: Sở vị Đạo thông thiên địa hữu hình ngoại. Tu nhập phong vân biến thái trung.
Nhi Huệ mạng lậu tận bất đắc Phong hỏa luyện pháp, bất năng hòa hiệp ngưng tập nho thành Đại Đạo.
Phong là gió, là năng Lực hổ trợ cho Lửa hừng lên là Lửa, là công năng huân hóa âm khí cho đạt đến Thuần dương.
Cho nên Đức Như lai nói: hỏa hóa di hậu thâu thủ Xá lợi. Lại nói: vi phong xuy động.
Phong hỏa với Lậu tận phải kiêm dụng,thì tự nhiên được hòa hiệp ngưng tập mà thành Chánh Đạo.
Thị dĩ phật pháp thứ đệ dụng công chi Chân truyền khởi vô bằng chứng.
Cái đạo Chân thiệt thì có Chân thiệt thứ đệ công phu. Nếu như tiền hậu hỗn tạp, tức chẳng phải là Chánh đạo của Như lai, mà là bàn môn tả đạo mà thôi.
Thứ đệ ông phu như: lúc hạ thủ, có công phu hòa hiệp Chân chủng lúc chuyển thủ(chuyển bá nhật lên muời tháng) có công phu luyện Xá lợi. Lúc đã thành Xá lợi, có công phu ôn dưỡng Thánh thai..
Lúc đã tản thư (buông tay) thì có công phu xuất thần hiển hóa và cửu niên diên bích.
Nhưng về thứ lệ công phu, chẳng dám vọng luân,chỉ là hội tập bí cơ về thứ đệ dụng công của Phật, của Tổ , lại phóng đại ra để làm bằng chứng cho sự phân chia tiết đệ.
Cứ sau mỗi câu chính văn thêm chú cước, để dụ hiểu Đồng chí chứng thành chánh giác và không còn mê ngộ.
Vọng dĩ nhất ngôn, bán cú, nhi vi Đạo tai.
Như trong thiền môn ngày nay, bản thân vốn chưa đắc Chân truyền,mà chỉ dùng hư vọng ngữ gọi là để cảm hóa người. có kẻ nói: trước khi cha mẹ sanh. Có kẻ nói niệm Phật…Tất cả đều là hư vọng, chẳng có chi để đem ra thực dụng thực tế cho con người, mà chỉ là điều hoặc thế vu nhơn! Phỉnh gạt kẻ mê để đồ danh trục lợi, mua lấy địa vị riêng mình. Chẳng khác nào kẻ đạo tặc trong cửa tu hành.
Lại phóng lên chủ trương: Đông vấn Tây tầm để tham cầu Phật pháp. Cối cùng cũng là nhất trường không lão, làm sao đủ gọi là Chánh Đạo.
Ngườo có chí hãy quán xét lẽ mà đề cùng được lý mới thật là Chân lão bà thiền.
Thiền khẩu đầu chẳng phải là Chân Thiền, màlà Thiền hổ bì, hổ tử, y phục!.
Thả hựu Thả ký thiên cổ chí kim, mạc bất dĩ manh dẫn manh, khanh hãm vô số chi Thiện tín thâm nhập cửu trùng, cánh bất năng xuất đầu kiến Phật chi quang hoa.
Phật pháp từ đời hán minh đế mới nhập vàoTrung Hoa.
Trước Tần Thủy Hoàng đã có Phạn Tăng đến nhưng tần Vương không tiếp nhận.
Từ đó cho đến lúc Phật pháp du nhập, số người lầm lạc xa rời Chánh đạo vô số.
Có cơ duyên tốy\t là nhờ Tổ sư Đạt Ma đến đất này mới chứng minh được chánh tà, Chân ngụy.
Thiền Tông truyền ở đây được sáu đời.
Sau Lục Tổ một thời gian, ngưòi Trung Hoa trở lại con đường lầm lạc, nên có 96 ngoại đạo và 24 pháp quán bàn môn. Chỉ có môn đã thất, tợ như thuốc độc hại người, chôn người trong hầm Lửa.
Thích giáo từ Tây phương 28 Tổ, Đông độ 6 đời, vốn không có môn này. Đó là nhóm Cao phong Sơn vu tạo. Công phu của nhóm này chuyên bế tức bàn môn, chẳng phải Chánh đạo của Như Lai.
Có kẻ hỏi: làm sao để thấy rõ?
Đáp: Cao phong môn chuyên dùng pháp bế tức, lá ngưng hẳn hơi thở. Công phu như vậy lâu ngày sẽ bị chứng thổ huyết, mười người chết chín.
Lại còn dùng phương đả thất,là đánh vào tích lạc,lâu ngày sinh ra chứng lao, khổ nảo mà chết, há không đau xót sao?
Người không biét được khí huyết mạch lạc trong người thì làm sao biết được Đạo.
Thân người suốt ngày lao luyện, đêm đến chỉ còn chở tâm thân hậu Thiên giao hòa, để tư nhuận phần căn bản của thân này. Nếu dạy người 49 ngày đêm không ngủ, lại gọi là pháp môn của Đại Đạo. lại bị lao chứng, khổ nảo mà chết, là điều vu hoặc.
Y học có nói: Người mà suốt 49 ngày đêm liền không ngủ, thì Tâm và Thân không giao tiếp với nhau, tất sinh chứng lao.
Lại thêm việc đan ùn vào tích lạc, gây sự tổn thưong cho tạng phủ
Than ôi!Hình phạt này đến Vua Đường mới giải tỏa.Từ đó về sau chẳng ai dám dùng nữa.
Lúc đầu nhà vua thấy hình pháp này mười người chết hết chín. Vua mới khảo duyệt lại các y thư, thấy trong ngũ tạng con nguời có mạch lạc, có sự liên hệ của tích (xương sống) với tổng lạc, mới thông khí huyết, mới vận hành để nuôi dưỡng phần căn bản của thân hình.
Nếu cứ đánh vào giá trị của cột sống này, tức là cản trở khí huyết phải đi ngược trở lên. Cuối cùng Lương y, Biển Thước cũng vô phương khả cứu!.
Cho nên nhà vua mới nghiêm giải cái hình phạt này là trách nhiệm theo đúng y học.
Lại còn dùng cái danh mổ tăng trên tấm vải vàng, gọi là y trượng truyền pháp, để hư truyền mà mê hoặc thế nhân, khanh hãm hàng sơ học. Lại còn dùng Thiền ngữ thoại đầu lục truyền khắp thế giới. Dù có người nào gắng chí, cũng không biết chỗ Chân cầu.
Lại còn cho Phật, cho Tổ, là những đấng Thiên sinh, cũng trong lý thuyết không đâu. Như vậy là biến cái ánh sáng huy hoàng của diệu hoa như lai trở thành hắc ám.
Cái đại tạng chi pháp bửu, bổn thị chỉ. Nại hà đương sơ học giả, hữu thiển thâm căn, hữu lợi đốn ngộ. Thử tiền hậu hỗn tạp, thiệt bất kính khả thành kỳ trục tiết chi thứ đệ.
Đại tạng giáo có Quyết, có thiệt pháp, có pháp vô vi, có pháp hữu vi, há đâu phải chỉ một khái luận. Chính ở tại ở nguời có học hay không học, dĩ nhiên là học cái Đạo Tánh mạng.
Nhi hậu lai chư Tổ sở dĩ đắc dĩ thành quả, diệc bất khả tịnhtiết nhi đồng luận.
Chư tổ hậu lai có chỗ được trao, hoặc là chẳng có thể trao cho công đồng đại chúng. Đại chúng chỉ lấy quyền pháp chế phục
Tục Tăng gọi ngộ Tăng, chỉ tránh khỏi ở đa sự, và sinh biệt niệm là đủ, thật là sai lầm.
Thiệt pháp đắc ngộ là do ở tư phụ mật ngữ, nên gọi: giáo ngoại biệt truyền, riêng thông Tiêu tức. Thí dụ: Như Đức Thế Tôn không truyền cho đường đệ A Nan, mà tư phụ cho Ca Diếp thành Nhị Tổ. Ngũ Tổ chẳng truyền cho thủ tọa Thần Tú, mà tư phụ cho Huệ Năng truyền làm Lục Tổ.
Cho nên cái đại bửu để thành Phật, thành Tổ, há truyền cho người vô trí sao. Tất yếu là phải Lực người có chí khí lớn làm Phật, làm Tổ.Thông suốt được Chân lý này mới có thể tự phụ. Cho nên bí ngữ của Phật pháp rất khó được nghe.
Hoặc hiển ư vô vi, nhi ẩn ư hữu vi vô vi là diệu pháp dụng công từ mười tháng dưỡng Thánh thai, đến nữa thời gian Cửu niên diện bích. Chẳng phải như ngày nay tục tăng lấy khô tọa làm vô vi.
Còn hữu vi là nữa Công pháp ở ngưng tập hòa hiệp của Huệ mạng trước Tiên.
Có bằng có cớ, là cơ diệu dụng của Tiên Thiên Chân khí. Chẳng phải như hữu vi của thế gian.
Bửu tích kinh nói: Nhất thiết chư pháp, thị như ảo hóa.
Chính trong đó có một pháplà: Hòa hiệp ngungtập, quyết định thành tựu.
Trong kinh tụng có câu :
Đại sĩ tu hành giãi thoát môn.
Chuyển ích từ bi cầu Phật pháp,
Tri chi hữu vi, hòa hiệp tác.
Chí lạc quyết định cần hành Đạo.
Lời kinh còn nói: Chỉ vì nhi thừa bị đọa lạc vào vô vi, chôn sâu cái tinh thần quảng đại, nên chẳng được ấn chứng quả siêu thoát.
Cổ Đức nói: hữu vi tuy là hư ngụy, nhưng nếu bỏ đi thì công phu chẳng thành. Vô vi tuy Chân thiệt, nhưng nếu đem lòng thích thú, thì Thánh quả khó chứng.
Thiền môn ngày nay nghe đến hữu vi, gọi là trước tướng, nên bỏ đi mà chẳng dùng. Thù bất trị, hữu vi này là trong cơ định tịnh, lá Diệu đạo hữu vi.
Thí dụ: Như trời đất vốn ở tinh thần Vô vi, mà sinh ra vạn vật là hữu vi, đó là tốt thượng nhất thừa của Phật pháp.
Cũng như tâm con người lúc đã đạt được trạng thái Vô vi, thì trong đó có một bửu vật siêu nhiên xuất hiện. Nếu chẳng dùng Chân ý thâu thủ lấy vật đó há chẳng bị tán phát ra ngoại cảnh sao.
Tức chẳng còn là bửu vật của ta, do đó mà có pháp Thủ quy, nên gọi là pháp Hữu vi.lục tổ gọi:vãng bắc tiếp độ.
Hoặc hiển ư vô vật, nhi ẩn ư hữu vật.
Vô vật là nói về một nữa sau Tánh công.
Có vật là nói về một nữa trước của mạng công.
Giả Thiền đạo ngày nay nghe đến hữu vật, liền sanh tâm nhàm chán. Thù bất tri, vật đó là căn bản của Đạo, là rường cột của Pháp, người người đều có. Cái có đó chẳng phải là vật do tư Lự niệm tưởng mà có. Cái có đó là một bửu vật nơi Tổ khiếu Huyền quan.
Lục Tổ nói: ngộ hữu nhất vật, vô đầu vô vỹ, vô danh vô tự, vô bối vô diện.
Phó Thái sư nói:
Hữu vật Tiên Thiên Địa
Vô hình bổn tịch liêu
Năng vi vạn vật chủ
Bất trục tứ thời điêu.
Đó là bửu vật của Tiên Thiên, làm chủ tể và dưỡng dục Hậu Thiên. tán phát ra thì không có hình có ảnh. Lúc tu lại thì thành Xá lợi
Viên ngộ Thiền sư nói: hà vật cao vu thiên, sanh Thien giả thị. Hà vật hậu vu địa, dục địa giả thị. Hà vật khoan vu hư không, bao hư không giả thị. Hà vật siêu Phật việt Tổ, thực (gieo trồng), Phật tổ giả thị. Nải hóa dục chi bản. Vật ngã đồng đồ.
Cho nên nói:ta và vật đồng một Đại phụ mẫu. Thuận theo đó thì sanh người, sanh vật. Nghịch lại đó thì thành Phật, thành Tổ. Thuận theo đó thì ta và người đều biét. Ngịch lại lẽ dó, nếu không nhờ Chân sư chỉ truyền, thì không thể nào hiểu được.
Vân Phong Thiền sư nói: có một bửu vật cứu người rất bí mật nhưng ít nguời được biết.
Đó là Tiên Thiên Thuần dương chí cương khí.
Chân khí này lúc tán phát ra thì châu Lưu khắp cơ thể con người. lúc rút lại thì quy tụ về Tổ khiếu huyền quan.
Hà Tử nói: Khả quý thiên nhiên vật. Độc nhất vô bạn Lữ. Mích(tầm) tha bất khả kiến. Xuất ngoại vô môn hộ.Xúc (thu lại), chi tại phương tốn, Duyên (kéo dài ra), chi nhất thiết (tất cả) xứ. Nể (người) nhược bất tín thọ.
Tương phùng (gặp mặt)bất tưong ngộ (gặp lòng).
Đại tắc bao tàng pháp giới. Tế (thu nhỏ lại) lật mể (hạt gạo) vi trần.
Tuyết phong thiền sư nói:Trời đất mà t1om thau lại thì nhỏ như hạt gạo. Tuy là như vậy, nhưng trước phải ngưng hòa hiệp ngưng tập, sau đó mới có báu vật, đức Thế` Tôn gọi là Bồ đề chủng tử,là báu vật mà Pháp hoa hội thượng Long nữ đã hiến. Hoặc hiển ư vô sự, nhi ẩn ư hữu sự.
vô sự là pháp của Tổ sư để chế phục chúng nhơn.
Có sự là pháp Thượng thừa của tổ sư ấn tàng mật thọ.
Kẻ phàm phu không có Thiện căn, không bao giờ tin. Cho nên đức Thế tôn mới nói:Ta giáng sanh vào đời ngũ trược ác thế, nhờ có việc khó đó mà chứng quả, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các thuyết của thế gian đối với pháp này thì pháp này thực rất khó khăn.
Lại nói: Sự việc của đức Thế tôn như vậy, nên đời khó tin.
Tổ sư nếu cùng lớp người hạ căn mà thuyết, tất gặp sự phản đối, cho là lời nói không phải.
Cho nên Pháp Hoa kinh mới nói: Lúc đó Phật bảo Xá Lợi Phất, hãy dừng lại, đừng nói thuyết đó nữa. Nếu thuyết việc đó thì tất cả các cõi người, các cõi trời đều kinh nghi.
Lại còn nói: Chỉ môt việc này mà thôi, còn ngoài ra đều chẳng phải Chân.
Có việc ở đay, chẳng phải là việc của bàng môn, mà là việc do báu vật phát động nơi ải Huyền quan, lấy Chân ý của ta mà chủ tể báu vật này, dùng hô hấp để thâu thủ và hòa hiệp Chân củng để vận chuyển Pháp luân. Thể thủ huân chưn, đều là Chân ý lồng hô hấp dụng công của huệ mạng, cho nên có danh là hữu sự.
Huệ mạng là tên riêng của nguyên khí.
Lúc Chân dược phát sinh mà không Thể thủ, há không bị tán thất sao?
Cho nên Hưng Duơng Thiền sư mới nói: tiến tới một bước, về lý được phải sáng suốt (được). Lui một bước thì việc phải sai lầm.
Hoặc hiển ư tiểu thừa, nhi ẩn ư Đại thừa.
Tiểu thừa pháp là pháp của Thiền sư thực thi về Quyền pháp.hư tham Thiền ,đả tọa, niệm kinh, tụng kinh, xem kinh… Là để gieo nhân quả cho Thiện căn
Đại thừa pháp là do Tổ sư mật ngữ. Như Huệ mạng, Thọ Mạng, lậu tận, Quy tức, và cái quả siêu phàm nhập thánh.
Trên đây là những lờ luận đại khái về Đạo.
Hoặc hữu ngôn chi dị, nhi dụ chi thiển, đương trục tiết dĩ thục ngoạn, bất khả mạo thị.
Tham ngộ vô nghi, tái cầu ấn chứng, sử đồ chấp kỳ thiên kiến, thủ tông ư vọng nhơn chi khẩu, hà kỳ vu da.
Lời nói thiển cận dễ hiểu, tứ là Chân phuơng của Tánh mạng. Chưa đắc được Chân quyết thì khó mà hiểu rõ. Tấ phải trước sau dung hiệp vá quán xét cho tận cùng từng thứ đệ, rồi phải cầu Chân sư ấn chứng, để khỏi bị cái lỗi một kiếp tu luyện không ra gì.
Như nay phái tòng lâm sở truyền, sở đắc, sở chứng, đều chẳng phải Chánh pháp của Như Lai mà là giả danh truyền trên tấm vải vàng, Bửu Trượng mà gọi là Phau nhìn nhận theo đó là lầm.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 11:08 am

Đó là hiện trạng sau thiời Lục tổ, là không đắc Chân truyền, là kế ư vọng tạo sự của Phương truợng, lấy hư non dồi nguời hậu học, nên có ít nhiều thiện tín lầm theo. Chẳng phải là Phật pháp mà là mối man của sự tranh tụng.
====Dư Cố viết:
Thoát tục li trần mích quá trị
` đoạn dâm ngộ Đạo quý Chân sư,
nhẩm tha chỉ thuyết vạn ban pháp.
Dử ngã thân tâm nan tự quy
Cách ngoại cao đàm phi Chí đạo
Phiến ngôn ám điểm thi Lương y
Đắc lai tạm thí tùng đầu khán.
Nmhất kắc công phu quả tự hi.
Tạm dịch:
Thoát tục lìa trần hỏi quá tri.
Đoạn dâm đúng đạo thật Chân sư.
Còn ra chỉ thuyết bao la pháp
Đối với than tâm có ích gì
Lời nói mông lung đâu phải Đạo
Nữa lời bí mật thật Lương y.
Được rồi nên theo từ đầu tập.
Một khắc công phu tự mĩm cừơi.===
Cổ nhân nói: Dục đăng sơn thượng đãnh, tu vấn vãng lai nhơn.
Quá tri:là người đã đắc hân quyết, hoặc đã thành, hoặc chưa thành hay chưa hạ thủ, đều là nguời đã đắc được Chân quyết tu luyện.
Đoạn dâm là giới đầu Tiên của Thủ Lăng nghiêm. Là rường cột thành Phật tác tổ.
Dầu cho những người mình mặc cà sa, tay cầm tích trượng mà chẳng đoạn dâm, lại xưng tu hành, há chẳng làm trò cười cho các bậc Cao nhân sao?.
Ngoài hình tướng tuy uy nghi, mà bên trong chằng khác phàm phu tục tử. Thật lấy làm xấu hổ vậy.
Chỉ có một việc đoạn dâm, nếu chẳng cầu Chân sư thì làm sao đoạn được.
Cầu Chân sư, trước Tiên là hỏi về pháp này. Còn những pháp khác đều là bàng môn.
Thích giáo ngày nay chỉ là khán kinh, niệm kinh,tụng kinh, tham khảo Thiền, đánh vào cột sống, hỏi ngữ (Thoại dầu) đầu…Còn những gì chủ yếu của Thiền gia thì không hề nghĩ đến. Tình huống đó có khác gì cái tên phù thủy dùng lá vàng để cấm em bé khóc đêm, nên đối với thân tâm ta chẳng có ích lợi gì cả.
Người nay họa Phật chẳng đặng Chân truyền, mà dám tự xưng ta là Bồ tát, ta là Thiền sư!. Còn bao lý thuyết đều là ngữ lục, đều là hư ngụy ngôn!. lại còn nói:Tăng ta lúc chết sẽ thành chánh quả!
Nếu nói như vậy thì tất cả những người trong thiên hạ đều thành Phật hết sao.
Thù bất tri, người đã đắc Chân truyền của nền Chánh đạo, thì lúc còn sống vẫn thực tthi những gì như Bồ Tát đã thực thi hoặc nói những gì đều là tinh hoa của tam giáo.
Phiến ngôn là Chân thiệt ngữ, chứ không phải là lời nói văn hoa phù phiếm, thi phú , trường Tiên.Tức là những lời nói hao ngôn xảo ngữ.
Cho nên Ngũ Tổ mới nói:Su sư mật phụ bản âm.
Ám điểm: Như lúc canh ba Ngũ Tổ ám điểm cho Lục Tổ, như Thế Tôn ám điểm cho ca Diếp.( Thuyết Niêm Hoa Vi tiếu )
Đắc được Chân đạo thì bệnh nghi ngờ mới tận, tuyệt,và suốt thông tất cả kinh văn của Tạng giáo, cho nên gọi:Lương y.
Đã đắc Chân qyét tì lập tức hạ thủ tu khỉ.nếu quả thiẹ là Chân đạo thì biết rõ lúc dâm căn mới bắt đầu manh nha, lập tức hồi quang phản chiếu, ngưng Thần tại khí huyệt mà chờ. Chờ tới lúc Nguyên tinh triền động thì dùng hô hấp mà thổi vào, và phải theo đung pháp thể dược quy Lư., trong khoảnh khắc dâm căn tự rút, Chân khí và Chân ý tự hiệp, Tâm tịnh và Thận sãn, nên tự mĩm cười.
Ức văn chi Tâm viết:Quán tự tại Bồ Tát.
Hoa Dương thiền sư nói: Đây là một cảnh giới rất quan trọng thiết yếu của Như lai rũ Thiên ân dạy người về Chánh pháp khởi thủ Song tu tánh Mạng.
Chỉ vỉ kẻ phàm phu chẳng đằng đuợc Chân truyền bèn gọi lây niệm quán niệm, tức là quán tự tại Bồ Tát.
Thật là diều đáng lầm lẫn.
Thù bất tri, cái niệm này có năng Lự duyên tập hữu Thức chủng kết lại, chẳng phải là bản nguyên của Đạo.
Trình Tử nói: Chánh đạo định lý, quả thị tâm hồ, ứt phi Tâm hồ.
Đó là để khải thị cho tu sĩ riêng thông về cơ Tiêu tức đến cùng tột.
Quán với Bồ Tát là đích chỉ diệu dụ của hai bửu vật song tu của Như lai.
Sao gọi là một vật được, tức gọi niệm là Đạo thì là sự xa vời vậy.
Cho nên kinh Viên Giác : Tất cả chúng sanh quấy nhận tứ đại là tự thân của mình, và đem lục trần làm giềng mối của tâm mình.
Huyền diệu tông lại nói:Linh đài, Trí tánh, không phải là cội nguồn của sanh tử. Nếu vọng nhận duyên khí chỉ nhân tiền trần mà có phân biệt là chẳng phải. cho nên truyền pháp Như Lai có nói: Không vương điện nội vô tông tích..
Nếu nhận niệm là thân thiệt, thì Bồ Tát phải nương theo đường cũ và bị chôn dấu nơi cửu địa,chẳng được xuất đầu biến hóa để thành diệu tướng của như lai, rồi không phí thân sanh này trong một đại kiếp nhân duyên.
Niệm này là do thành phần âm trong Tâm Hậu Thiên, là Thức Tánh biến hóa, vạn kiếp ngàn sanh đều do thành phàn này nhiếp lý, khiến cho Bồ tát mê lộng, rồi rơi vào nẽo tham trần biến dục, chẳng được giải thoát, cũng chẳng được chứng quả.
Sự chuyển kiếp mê thất này là do chẳng biết được chỗ xuất xứ của bồ Tát, và do sự quấy nhận thành phần hức này.
Cho nên Cảnh Dương Thiền sư mới nói:
Học đạo chi nhơn bất thức Chân!
Chỉ vì tùng tiền nhận Thức thần!
Vô thủy kiếp lai sanh tử bản.
Sơ nhơn hóan (gọi) tác bản lai thân.
Nam Tuyền Thiền sư nói: tâm bất thị Phật Trí bất thị Đạo. khởi bất lạc không vong, mang nhiên vô chủ tai?
Có kẻ hỏi: lấy gì để tu luyện.
Đáp: Quán này là Chánh niêm trong Linh Quang của ta. Chưa đắc Chân truyền. Sao gọi là Bản tánh được. Chính là Bồ tát trụ cư Tịnh độ, hai báu vật là Thần với Khí ở cách nhau tám tấc bốn phân nếu chẳng Quán nhất thì làm sao hai bửu vật đó tương hội được. Cho nên phần hạ văn Sĩ nói về hòa hiệp, ngưng tập , quyết định, thành tựu.
Bồ tát tức là Huệ Mạng, gọi là Phật tánh.
Từ lúc lìa khỏi bụng mẹ, nơi lòng đất phất lên một tiếng, lúc đó Quán và Bồ Tát hai thành phần phải lìa nhau. Bồ tát thí ấn vào nơi thâm mật. Nếu chẳng cầu Chân sư thân chỉ, dù có thông minh linh ngộ cũng không thấy được.
Chỉ vì Đạo tâm duy vi. từ đó về sau những gì mà ngày đêm mưu Lự, dù là thông minh trí tuệ cũng do Thức thần dụng sư6.
Tổ sư có nói: Các người đều có Phật tánh. Đó là Như Lai phát đại từ bi dạy chúng sanh nơi đại địa: Thời thời khắc khắc quán chiếu lấy bố tát này.
Bồ Tát mà thọ được Linh Quang của Huệ Lực, lâu ngày thì đạt được trạng thái Thái cực, như nửa giác nửa mộng, dung hóa khắp châu thân tợ như huân chưn, linh động hoạt bát tợ như viên ngọc Châu nằm trong bồn nước, hoát nhiên linh tỉnh,phóng đại quang minh. Thần Lực đã đủ thì thời đến.
Chợt vậy, tợ như có một làn thủy triều dâng lên, cùng với Thức tánh của ta hiệp lại làm một.
Đến đây thí thức tánh chết, Phật tánh linh hiển. Linh linh như lúc cũ. Đó là chủ nhơn có ánh hào quang chiếu soi khắp cõi Sa bà. lục thông toàn vẹn, hết vươn trần cấu. Chỉ còn một Tánh dung như Thái không. Cho nên mới gọi: Cả thảy hàm linh đếu có Phập tính.
Tuy nhiên, nếu sống thuận theo quy luật diễm biến âm dương Hậu thiên thì sinh người sanh vật nếu sống nghịch lại là theo cơ biến hoá một chiều của Trung Thiên thì thành Phật thành Tổ. Thánh phàm hai nẽo cũng do chỗ này. Đó là một bửu vật, một thái cực.
Có được Thái cực này, thì trị giác, ngôn ngữ đều thị hiện đúng với đăc tính Thái cực.
Lúc này mắt khép miệng khóa, y gia gọi là Chân hỏa.Chân hỏa thiệt vô hình vô ảnh, ẩn tàng sau rún, trước hai quả Thận,ở dưới một tí, treo Lững lờ một huyệt, Cổ nhân gọi là Tinh độ gia hương,Cực lạc quốc,Diệu hữu, Chân không.
Có được Chân hỏa này mới Huân chưn toàn thể âm khí, dâm khí trong người, hóa thành Thuần không có Chân hỏa này, thì Chân tức sẽ bị gián đoạn hoặc bị chấm dứt,thì thân hữu hình sẽ bị hủy hoại.
Lục Tổ nói: tâm thì địa tánh thị vuơng.Vương cư tâm địa thượng. Vương tại Thân Tâm tại. Vương khí Thân Tâm hoại.
Tâm này chẳng phải là quả tim thịt mà là Đạo tâm. Cho nên mới nói:Đạo tâm cư ư Bắc cực,nhi chúng tinh triều củng.
Người trong thiên hạ họa Phật, nếu chẳng tu lất Bồ Tát nàymà tu theo nẻo khác thì vô ích. Tu theo nẻo khác tức hệ thuộc bàng môn ngoại đạo.
Chẳng phải là Chánh pháp Quán tự tại Bồ Tát
====bửu tích kinh vân: Hòa hiệp, ngừng tập., quyết định, thành tựu.
Đây là lời mật ngữ của đức Thế Tôn, là bí văn của đại tạng nhất giáo, là Pháp bửu tánh mạng song tu. Cho nên nói:quyết định thành tựu.
Đạo này, từ Hán minh đế đến nay chưa có một người hiển bị. Chỉ riêng có Bồ Đề Đạt Mạ và Tịch Vô Tổ Sư, 2 tổ sư mật truyền bí pháp, nên nhục thân của người tu sĩ mới được biến hóa và thẳng lên cỏi thái không mà doãn chứng kim thân.
Tổ sư Đạt Ma về cơ nhiệm màu chỉ mới hé lộ.
Còn Tịch vô Tổ sư lại nói rỏ trong kinh điển, xuyển dương cái đạo này.Nhưng vì môn nhân lại tàng bế kinh thơ, chẳng để tiết lộ ra ngoài.
Nay ta giải thích minh bạch đầy đủ, là mong đồng chí khái thông để đạt chánh qủa, hầu khỏi bị rơi lạc vào nẽo bàng môn, hay bị tật bệnh mà bị yểu tử, và sớm đạt thành chánh qủa.
Hòa là khí âm trong tâm hạ hòa với khídương trong thận. Khí âm mà đắc được khí dương này, mới có cơ sở an tâm, lập mạng, nên gọi là Hòa.
Hiệp, là khí dương trong thận thừa thọ khí âm trong tâm. Khí dương được thọ nhận lấy âm khí này, thì được liểm thu thành cái thể kiên cố, nên gọi là Hiệp.dịch kinh gọi:nhất âm nhất dương chi vị đạo.chí âm chí dương chi vị tật.
Từ xưa đến nay, chư phật chư tổ đều theo đích hướng tánh mạng song tu!
Ngưng: là pháp ngưng thần.
Tập là phương gom góp Chân khí lại.
Chân khí nếu không tập tụ lại, làm sao thành bồ đề. Mạnh tử gọi: tập nghiã nhi sanh.
Đó là tánh mạng đều tu, là dưỡng thần, dưỡng khí, giản dị mà dễ thành.
Chỉ và người chẳng biết Song tu, nên đức Như Lai mới nói: Hòa hiệp.
Con người từ khi lia khỏi bụng mẹ thì thần chẳng hề cố đoái đến Thần. Thần ẩn tàng nơi Tâm tồi pháp hiện ra hai mắt mà bản khiếu kia đồng cọng dụng, tồi theo ban ngày tháng mà thượng hao.
Mạng thì ẩn tàng nơi Thận, rồi phát hiện ra dâm căn rồi theo ban đêm mà hạo hao., Cứ hạ hao mãi thì bẩm thọ con người như thế nào?
Tiêu hao đến cùng, tức sẽ ô hô ai tai!
Nếu chẳng cầu Chân sư chỉ đâm ngừng tập, dầu cho có tu cũng chỉ tu một điểm âm thầm mà thôi. Thù bất tri, thần này là thần của hậu thiên,nên không thành thánh đaọ được. Cho nên đức thế tôn mơỉ dạy: trong 12 giờ, hành trụ tọa ngọa, đều dùng thánh niện mà thu liễm cái
Thần vi tế ngưng nhập vaò trong thận mạng. Thận mạng mà đắc được thần này, chẳng khác trung thần gặp được thánh quân. Thần khí cùng nhau cũng phục, cũng chẵng dám riêng mình thiên ngụy ngoại hao.
Cứ như vậy mà dụng công, lại thêm công phu cùng lý, thì sau đó dùng pháp thể thủ nguyên tinh sẽ thành công. Lứa tuổi thiếu niên chẳng tròn một tháng, trung niên không quá 5 tháng, thì tổ khiếu huyền quan thình lình không trở nên có, không biết từ đâu lại. Thoạt vậy Chân cơ phát động,hết sức vui sướng, đối với sự mầu nhiệm chẳng biết dùng ngôn ngữ gì mà diễn tả được.
Đến đây phải lo bảo thủ, và nhanh chóng chuyển bánh pháp luân. Cho nên đức thế tôn mới dạy: Tứ y theo pháp Ngưng tập mà tu luyện,thì quyết định sẽ được thành tựu.
Lục tổ, Đàn kinh viết:Hưủ tình lai hạ chủng.
Tình: tình ở đây là sự hí lộ thiên cơ về công phu hạ thủ huệ mạng. Nếu không có tình nầy thì không thể nào thành phật.Thí dụ như nông dân không có giống thóc, nếu muốn thu hoạch, có phải là việc kỳ lạ không.
Thiền tăng ngày nay chẳng được thành phật, là do cái lỗi không biết được tình nầy.
Ngày xưa, ngũ tổ là cái lòng đạo nhơn (đời trước) đến cầu đạo nơi tứ tổ. Tứ tổ trong thấy Ngũ Tổ hình hài đã già, và không còn tình, bèn nói: Ngươi haỹ chờ chuyển hết kiếp Đạo nhơn nầy đã. Kết quả là Ngài đã viên tịch và nhập vaò Châu thị và đạt được thánh đạo.theo việc nầy mà nói, là chẳng cần đến cha mà tự đầu vaò hoài thai, cũng là do cái lý hữu tình nầy.
Lục Tổ nói: Dâm tánh thị thật tính.
Mã Tổ nói: Cũng chỉ có một báu vật nầy.
Đó là hai vì tổ đã tiết lộ thiên cơ.
Long Nha Thuyền Sư nói:
Nhơn tình nồng hậu,Đạo tình vi.
Đạo dụng nhơn tình thế hản tri.
Không hữu nhơn tình vô đạo dụng.
Nhơn tình năng đắc kỷ đa thì (thời).
Chỉ có một chữ tình nầy, mà Từ Hán Minh Đế đế nay khiến học giả phân tách lăn xăn vẫn chưa được minh bạch.
Nếu chẳng đắc được pháp Huệ mạng mà gọi là tình, thì đó là thế tình.
Có kẻ mới học vài câu sáo ngữ cơ phong "thoại đầu" mà đã tự cho ta đã suốt thông thánh đạo. Lại lấy thế mà hoặc thế vu dân, sao khỏi để lại trò cười cho các bậc cao nhân hậu thế.
Ngũ Tổ và Lục Tổ mới là đích thống của Như Lai, là đích truyền cái đạo Huệ mạng.
Có cái lý cấm bế, là chẳng truyền cho kẻ vô đức vốn là sự thật, mà từ xưa đến nay đã có.
Kẻ hỏi:Cái tình này là tình gì?
Đáp: Tình này là cơ hóa dục của Huệ mạng, là guồng máy đốn khai nguyên quan, Huệ mạng tuy ẩn tàng nơi Huyền quan, lúc tinh cực thì sẽ phát sinh, rồi y phụ ngoại hình mà dậy lên, rồi khởi hứng cái ý trong Tâm ta như có sự tình cờ mà biết. Tình đó đã đến tột thì ngoại hình ngưng động, đó gọi là tình.
Cho nên nói về pháp bế dương quan, Như Lai có nói; bất thức động tinh, học đạo vô ích.
Có người lại hỏi:Thế nào là hạ chủng?
Hoa Dương đáp; Tìn này là cơ thuận nghịch sah người và sanh Tiên Phật.
Cái đoạn đích của cơ tạo hóa, nếu chẳng phải Chân ý thì làm sao nghịch quy được.
Tu sĩ học Phật, nều đã hiểu được cơ hình động thì đem cái Chân ý vào trong cơ tịnh của ta ngưng nhập nơi Trung cung. Lúc tình lai là lúc phải ngưng. Lâu ngày thì Thiên cơ phát động, thình lình, mạng cung sẽ sản xuất bồ đề, nên gọi: Hạ chủng.
Có kẻ hỏi:Tu luyện ở chỗ nào?
Đáp: đã biết Ngưng pháp thì phải biết Luyện pháp. Luyện là nung nấu. Nung nấu phải dùng Lửa.Lửa chẳng có gióthì không n hừng lên, cũng chẳng được huân hóa vật sản.. Cho nên Đức Thế Tôn mới nói:Vi phong xuy động. lại nói: hỏa hóa dĩ hậu, thâu thủ Xá lợi.
Tu sĩ cần phải sai sử cái gió hô hấp,mà nghịch xuy cái Chân hỏa nơi mạng cung, là từ chỗ phát sinh ra ngoại căn của Huệ mạng, rồi dùng hô hấp mà nhiếp hồi bản địa mà ngưng tụ,đoạn lấy cái Lửa trong Lư để huân để luyện, cho đến khi nào hữu hình hóa thành vô hình. Tu luyện được như vậy, chẳng chỉ huệ mạng nơi bản cung không bị ngoại hao, lại còn đem cái động cơ này bổ trợ chỗ bất túc của Huệ mạng. Tức gọi Tạo hóa ssanh sanh vô cùng. Lâu ngày thì mạng cơ mản túc. Lại gọi là Huệ mạng bất tử. Cho nên Đức Như lai độ ca Diếp gọi bất tử a la hán.
====hựu ma ha bát nhả ba la mật đa tâm kinh viết:Thời.===.
Trong các kinh thư, hầu hết cứ mỗi câu có vài ý, tối thiểu là có vài chữ, đặc biệt ở đây lại chỉ có một vài chữ Thời, há chẳng lạ sao.
Đây là lời nhắc nhơở của Như lai, dặn dò hâu nhơn nên nhớ: Thời là chí thiết, chí thiết.
Thời đây chẳng phải là thời hầu, thời gian mà lại cái Thời của dương đông trong lúc tu sĩ dụng công Thiến định cực tịnh.Cổ Đức nói;
Nhược môn kỳ thời vô định thời.
Thanh phong minh nguyệt tự gia tri.
Nho giáo có nói:
Nguyệt đáo thiên Tâm xứ. Phong lai thủy diện thời.
Chư công tuy nhiên diệu. Dụ phát kỳ Thiên cơ.
Khước tổng bất khẩn thiết. Xuất thị cá thậm ma.
Thời lai thả giáo nhơn. Tuong hà sở dụng hồ?
Dư bất tích tội quá. Dự chử nhơn thông nhất tuyến, miễn đọa bàng môn, tảo chứng Đạo quả, khởi bất diệu tai.
Thích nghĩa:
Trăng kia đã đến Cốc thần,
Gió về mặt nước trong ngần Thời lai.
Là cơ Tạo hoá an bài.
Nhiệm màu hiển hiện không ngoài Thiên cơ.
Từ xưa lới mãi lặng tờ.
Cũng là Chân duợc, Chân cơ nới người.
Thời lai chới khá dễ ngưoi,
Lấy chi thể dụng vẹn mười mới nên.
Tám câu trên là lời tiết tận Thiên cơ của ta, mà không sợ tội lỗi, là muốn cùng tu sĩ đồng theo Chánh pháp, để khỏi đọa bàng môn, sớm thành Chánh quả, há chẳng huyền diệu sao?.
Thời đây là lúc Huệ mạng trong thân ta tự đông. Cổ đức gọi là hượt Tí thời.
Cái cơ phát sanh của khí Chơn duơng tợ như Lửa phựt, manh tợ gió Lửa. Nếu không có Chân sư truyền trao về Chân ý và Chân tức thì lấy gì để chế phục.
Nó có biệt danh là mãnh hổ, chuyện nuốt Tánh mạng, hút lấy cốt tủy người.
Có biết bao anh hùng hào kiệt trong tam giáo, vì chưa đắc Chân truyền, nên bị nó gây hại.
Các vị cao nhơn, Chí sĩ ngày xưa, trước hất đều lo chế phục con mãnh hổ này mới đắc thành Chánh quả.
Lúc nó phát dộng ra hình dung, thì cơ thể ta như vui vui, như lặng mình tắm trong bồn nước ấm, Đơn điền hừng hừng như Lửa muốn phát,. Có một tín hiệu như một mạch tráng vượng cường liệt. Chân dược đuợc huân chưn thấu tận dâm căn, tức hóa thành Tinh hoa, oai trấn độc lập khắp châu thân, tất cà đều thình lình theo nó. Y gia gọi ngoại thận hưng, Là diệu quyết thành Phật tác Tổ, đều do ở công phu hạ thủ này.
Nếu đã đắc Chân truyền,hà tất phải còn nghi hoặc.
Thời đây là bí cơ của Thích giáo.
====Thế tôn viết: ư kiệt đà Long cung thuyết pháp===.
Thượng văn một tiết, nói về chỗ Thiệt xứ của THỜI. Tất cả đế tại chỗ Thiệt xứ này. Lại sợ người đời sau rơi vào nẻo không, nên ở đây chuyên nói về chỗ Chân thiệt đó, khiến cho người tu không bị lạc vào nẽo không.
Long cung: là phạn ngữ của Tây phương, thí dụ Trung Hoa gọi là đơn diền, Khí huyệt.y gia gọi Tinh khiếu. Tây An thiên gọi là Tinh độ, khổ hải Hải đề, Cực lạc quốc, ưu đà na. Tuy tên có nhiều, nhưng chỉ có một chỗ là Chân chủng sở sản.
Thiên thai Chỉ quán tap nói: Tiếng Phạn là Ưu đà Na, tức là Đơn điền.
Cận đại những bậc đắc Đạo sợ nguời không hiểu nên lại nói: Lư.
Đó là do lòng từ bi của các vị Tổ sư nên thí dụ thiết cận nhất,để cho người biết được chỗ Chân thiệt.thí dụ như người thợ rèn muốn làm ra vật dụng khéo phải nhờ cái Lò mới thành công. Sự tu luyện cũng phải như vậy.
Lư là gì? Là nơi huân hóa vật hữu hình thành bửu vật. Là luyện nguyên tinh thành Xá lợi.
Tâm kinh giải có nói: thâu lai phóng tại Đơn Lư nội.
Luyện đắc kim ô nhất dạng hồng.
Quang inh Như lai nói: Lư trung hỏa phát. Lại nói: ư trung phàt hỏa tết thiên cơ.
Bất ngộ tay lai tức thị mê.
====viên Thông thiến sư viết: bắc đẩu lý tàng thân.
Bắc đầu là Long cunbg. Tàng thân là ngng tập. Tổ sư thường dạy ta phải đem cái Chân n iệm trí tàng nơi long cungthì Tâm tự hư không, m Mạng tự kiên cố.
Phó đại sĩ nói: tâm khôn g cực địa quy.
======tịch Vô Thiến sư viết: Ngưng thần thâu nhập thử khiếu chi trung, tắc Khí tuỳ Thần vảng,, tự nhiên quy ư thử xứ.
Tịch Vô thiền sư đắc được toàn chỉ của Như Lai, của đạt ma Tổ sư, là đích truyền của huệ mạng. Cho nên ngài mới được ẩn hiển mạc trắc,biến hóa vô cùng. Vào thời vua Ung Chánh, thường đến Thái ấp, hóa dương thân vài mươi, nhà nhà đều có tịch vô đàm tiếu, ẩm thực,ẩn hiển không có tung tích, hoặc có người kim ngân, mỹ nữ,hoặc hiện hổ báo, thuỷ hỏa.
Còn những người tu nhọc, mà phàm tâm cứ mãi vọng niệm về tình dục, thì làm sao đắc Đạo được.
Ngưng; là Thần ngưng, là Chân ý an trụ nơi Tổ Khiếu,còn gọi là Tịch là Chỉ, là Trụ.
Thần ngưng để Thể dược quy Lư. Thần ngưng để Tịch chiếu, để huân chưn, để phong cố để thâu thủ Tiên Thiên Chân khí về Trung cung.
Chân khí này, Thích gia gọi là: Trụ trượng, Tích trượng, Thiến na,Trích lô, bạch Tuyết, Kim liên,Tây giang thủy, tào khê thủy, Lư trung Hỏa…Tên tuy nhiiều nhung chỉ có mộtlà Tiên Thiên Chân khí.
Cho nên Huỳnh Tiết Thiền sư, sau khi tham cầu nơi Lục Tổ được đắc Đạo, là sy lúc công phutu luyện được viên mãn mới nói: Cũng chỉ là Tiên Thiên Chân khí mà thôi. Lời nói này đã tiết tận Thiên cơ.
======hửu viết: Công phu bất gián đọan, tức tức quy căn. Hoặc Nhât nguyệt, nhị nguyệt, tiện năng tự giác,khiếu trung dung dung, noãn khí triền động.
tức là khí hô hấp, Phật thí dụ là gió. Còn có tên là trụ trượng, như vị lão thành chống gậy đi.
Tu Huệ mạng, nếu không có khí hô hấp này để hà để thổi, thì Lậu tận chẳng hóa,Xá lợi chẳng thành.có một Thiền sư nói;
Vị đạo thủy cùng sơn tận xứ, thà thượng tác bạn, quá thời quang.
Khí hô hấp của con n gười, nguyên căn vốn tại Đơn điền, chìỉ vì người chỉ biết xuất mà chẳng biết tận.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 11:09 am

Người đắc được Chân truyền, thì thần của Đơn điền mới hay tiếp thu lấy hơi thở. Cho nên Thiền sư nói:vô khổng định (ống sáo trống), điên đảo Lưởng đẩu hề xuy, cảnh đắc thần khí tương hiệp, cửu tắc tự noãn (ấm), Pháp luân tự chuyển,.Niên lão niên tiếu chi phân biệt. Thiếu niên nguyệt nội, Lư trung tự hữu hiệu nghiệm chi cơ xâm. Niên lão,hoặc sổ ngoạt phương hữu hồn hiệp chi tín chí, noãn khí tự hữu động cơ.
==tịnh quang Như lai viết:
kim đồng nhất tỉnh khí hoàng cung.
Bất giác trỉ ngưu pháp haỉ trung.
Dục yếu, mích tha quy cố lý
Linh sơn tháp hạ thủy tri tông.
Tạm dịch:
Kim đồng mới tỉnh bỏ hoàng cung
Chẳng ngờ Chân khì đến hải trung
Muốn được Thần về nơi xóm cũ
Linh sơn Tháp hạ mới rành công

Kim đồng là thái tử, là đức Thế Tôn.
Thái tử vừa phát tâm xuất gia tu hành, Thiên Thần liền biến hình Bạch mã, đưa ra khỏi hoàng cung, đằng không lên núi tyuết sơn rồi tự lấy đao vàng cắt tóc.
Lúc đầu chưa đắc được Chân truyền nên tu theo bàn môn, cho nên Lậu tận không thành, mà hình hài thì gầy ốm! Sau đó mới được a Tư Đà rao truyền Chánh pháp tu mới thành Phật vị.
Cho nên pháp hoa kinh mới nói:Tiên trưởng trao cho Phật diệu pháp, nên Thái tử mới thành Phật.
Thích gia phổ có nói: Tư đà thấy Thái Tử hình hài ốm gầy mới bảo Thái tử :Có thể thực ngưu nhủ ,thì sẽ được phản phục lại như ngày trứơc.
Thái tử sau khi phục ngưu nhủ rồi , thì tự nhiên phát hiện ra 32 Phật tướng ,đạo quả viên mãn. Ngài mới cầu Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký cho .
Thế Tôn sơ hạ công phu, tu luyện theo Chánh đạo ,chỉ trong 49 ngày thì có minh chiếu hiện ,mới tự than rằng :Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
Chỉ vì ngừơi chẳng đắc được Cái Đạo này mới bị lỗi lầm, và lạc theo nẻo ngoại đạo bàng môn .
Thế tôn nói: Phật tánh tức huệ mạng.
Trĩ ngưu hay ngưu nhũ: là Tiên Thiên Chân khí.
Hải trung: là đơn điền.
Như lai dạy người tu kuyện, phải tu tại Linh sơn tháp hạ, sau đó mới có hiệu nghiệm là trĩ ngưu quy cố lý.
Cho nên trong tạng kinh có ghi:
Nhơ nhơn hữu cá Linh sơn tháp.
Hảo hướng liunh san tháp hạ tu
Tri tông: trong đơn điền, hốt nhiên vô trung sanh hữu. Chẳng chờ gì cả, từ trong ý niệm giác với tri dung hoà làm một, tợ như quan cảnh mùa xuân, vui sướng không cùng.
Mã Tổ mới nói: suốt cả bì mao, sướng đến tứ chi.
Cố Lý: là Đơn điền, Tâm điền mới do trung hạ quyên thượng, hoac tính thành Phật tánh, đốt tập niệm thành Chánh niệm, rạng ngời một Chủ nhân ống, nên gọi: quy cố lý.
== Viên Thông Thiền Sư viết: quần âm bát tận, nhất dương phục sinh. dục kiến thiên địa chi tâm, tu thức thưà âm chi pháp.
Quần âm bác tận: theo dịch lý, con người Hậu Thiên có nhâbn phẩm thấp nhất, Thánh nhân tượng, quỷ, Sơn Địa Bác. Quỷ này trong có năm âm, ngoài có một dương. Cón một dương tức còn kiếp sống con người, nếu kẻ nào đã toàn âm, tuy còn mang hình vóc con người, nhưng tâm hồn là cầm thú.
Vì lẽ con người còn 5 âm nên phải ra công quân hóa từng một âm trong năm âm, nên mới gọi ngũ thiền.
Còn một lý nữa là vũ trụ bên trong con người, và vũ trụ bên ngoài thế giới Hậu Thiên đều có một thời âm cực, đó là thời Tuất Hợi thái cực.
Thế giới bên ngoài, như trong một ngày đêm có hai giờ Tuất Hợi Thái cực, là thời Thuần âm, rồi âm đến cực thì có nhất dương phục sinh. Nhờ có một duơng này trở lại sinh nên có cơ tạo hoá tiếp nối sự sống còn của vạn hữu vũ trụ trong thời gian kế tiếp.
Trong một tháng có 5 ngày thái cực là từ 26 đến 30 âm lịch. Trong một năm có hai tháng Tuất Hợi thái cực. Nhớ có thời thái cực này mà thế giới ậu Thiên được tiếp nối sự sống còn.
Thời thái cực này chỉ thị hiện có ba thời kỳ là: Thành, trụ, và Hoại. Cuối cùng đến thời kỳ Không có thời Thái Cực thị hiện nữa, rồi đến cực thời thế giới này sẽ nổ tung thành vô số đơn vị cực vi tế. Số đơn vị cực vi ế nàyphải chờ đến thời kỳ Thành tiếp nối mới họp thành một thế giới mới. cứ như vậy mà tạo mà hóa mãi.
Con người lại có hai thời kỳ Thái cực: là thời Thái cực thiên nhiên và thời Thái cực tự tạo.
Thời thái cực thiên nhiên là hia giờ Tuất Hợi.
Thời Thái cực tự tạo klà do công phu thiền định.
Thiên địa chi tâm: là đơn điền, là Tổ khiếu.
Thiệu khương Tiết nói: Đông chí Tý chi bán, Thiên tâm vô cải di.
Muốn thấy đưiợc tâm này phải dụng công Thiền định thì thấy được, đó là huyền quan Tổ khiếu xuất hiện và Chân chủng tử sẽ phát sinh.
Đó là phát thừa âm cuả chủ đích Thuần Dương.
Cơ tạo Phật tác Tiên cũng không ngoài chủ đích Thuần dương hay còn gọi là Cao Đài hóa.
==== Lăng nghiên kinh vân: nguyên lập đạo tràn Tiên thủ Tuyết sơn đại Lực bach ngưu, khả thủ kỳ, phấn dĩ nê kỳ địa.===.
Thú dụ đạotràng là nói về chỗ khợi thủ cuả công phu tu luyện.
Ngưu phấn: Là nói về căn bản tu Huệ mạng.
Thế tôn dạy người tu luyện, trước phải tu huệ mạng. Là thuần duơng hóa lấy Tánh mạng của kiếp người hậu Tiên để trờ thành Càn Khôn tánh mạng Tiên Thiên bất sanh tử.
Nếu chỉ tu đơn độc mỗt thành phần âm trong Tâm Ly Hỏa của Hậu Thiên, Lăng nghiêm kinh cho rằng: Chỉ thành âm ma mà thôi.
Thiền Môn ngày nay không hiểu, nên chỉ tu tánh mà không biế tu Huệ mạngrồi thường thưong điên đảo biến thành tật bệnh! Đến chết!.
Lại còn nói đến ngộ thập địa, tam thừa, cuối cùng cũng thành hun lão.
Chẳng biết chỗ đẹp của Tuyết sơn, đại Lực bạch ngưu phấn, mà nói tu nói luyện, thì có khác gì kẻ mài gạch mà nói để làm gưong. Lại còn quấy lây sự nhóm tuyết làm gạo, gây cho hiều người ngộ nhận.
Đã không tạo lập căn bản của mạng, thì đâu có cái lý sẽ thành Tánh đạo .
Tuyết là chỉ cho màu trắng, là chính sắc của Tây phương, là thí dụ về Chân khí trong Thận mạng. Cho nên mới nói: Như lai tu luyệnlà tu Tây phương cực lạc.
Lưong y lại nói rõ:Lưởng thân chi tiền, không huyền nhất bạc quyện.
Tiên Thiên Chân tánh mạng và thủy hỏa đều ởtrong đó, vốn vô ìn vô tuớng, không thông lộng lộng có Huệ mạng ở trong đó. nếu chẳng gấp tự tu luyện làm sao kéo dài tuổi thọ được.
Rồi cư mãi, buông danh lợi nên hao tán, theo sắc dục mà Thất Chân.
Còn người xuaất gia cứ mãi niệm tụng, khô tọa phân ly! Oâ hô!, dầu khô đèn tắt, chẳng đến nữa trăm mà đã mạng vong.
Cho nên Thánh nhân mới lấy Tuyết sơn để ví dụ, cho Tiên thiên Chân khí là c Trường sanh của con người. Thuốc này vốn không tướng, không sắc, trong ngần như tuyết, nên gọi: đại Lực bạch ngưu.
Chân khí này lúc ẩn lú hiện, bao hàm trờ đất, chuyên chở muôn vật. Quảng đại thì vốn vô biên. Tế vi thì nhỏ hơn hạt bụi, ìm nó thì không thấy hình hảnh. Tu lấy n nó thì kết quả hiện tiền.
Siêu Phật, vượt Tổ, đều do Chân khí này.
Mạnh tử gọi: Chí đại chí cương, há lại lầm sao.
Chân khí này có cơ biến hóa, tuổi niên quán thì lại mong chầu ài quan. Lúc tinh cực thìn nó tự sanh. Chẳng biết bảo thủ thì nó tự hao tán! Nên gọi Phẩn. Cứ để hao tán mãi, mà chẳng trúc cơ, cố mạng, thì tuổi thọ sẽ được là bao.
Nho gia nói: Nếu biết dụng công để nuôi lấy Chân khí này , khác gì kẻ dùng đất đắp thành đường, nếu chẳng dụng công thì chẳng có` đường đi, lại bị gai tranh lấp kín.
Chân khí( phẩn) là loại đao chém chết quần ma mà còn là bệ, là cấp, để lên Tiên , lên Phất.
Chẳng giữ lấy Chân khí này mà nóI tu, nói luyện, ngàn đời cũng hóa thành không!. Thí dụ như người muốn kiến tạo một ngôi nhà, mà chẳng có nền móng , thì lấy chỗ nào để ở, và kiến thiết có được không.
Các bậc chí nhân ngày xưa biết được chỗ xuất xứ của Chân khí , rồi lúc tịnh thì dưiỡng, lúc động thì thể thủ, là thâu nhiếp Chân duợc vể bản địa, rồi dùng Chân hỏa hà luyện trúc cơ. Tự hoàn cơ chỉ nên gọi Nê đạo tràng.
Đã có được Tràng cơ, lại không thể thiếu Thiện trí thức. Thời thời , khắc khắc đem Chân ý của ta tọa cư nơi trong. Một niệm chẳng dấy lên, thì bát phong làm sao diêu động được. Cho nên Thiệu Khuơng Tiết mới nói: Nhất niệm bất khỉ, Quỷ Thần mạc tri, bất do hổ ngã, cánh do hồ thùy.Độc dộc duy duy,nhậm tha thiên ma bá quái.
Ngã tại giá lý, ẩn thân an nhiên tự tại, cho nên gọi Hòa thượng đạo tràng, và chẳng còn gặp ma loại nữa, tức A nan gọi: Tọa nmơi trung Lưu thủy diện, kiết dà mà nhập diệt.
===lăng nghiem kinh hựu viết: Tất sử dâm cờ thâm tâm cu đoạn đoạn. Tánh diệt vô ư Phật, Bồ đề tư khả hi ký.
Từ xưu đến nay, những vị đã thành Chánh quả,không vị nào trước cbhẳng lo đoạn diệt dâm cơ và sau đó mới siêu Phật việt tổ.
Thích tử gày nay không hể biết đến pháp đoạn dâm. Chỉ có một chữ dâm cơ, mà đời ít có người biết. Chẳng những chẳng biết pháp tu luyện , là việc sở dĩ nhiên, mà Tâm với Thân cũng không thiệt kiến chẳng dâm. Tại sao vậy?.
Dâm cơ khi phát ra hình tướng tợ như cục lửa đỏ rực, nhanh tợ con gió Lửa!. Nếu chẳng đắc pháp thì lấy gì để thâu lấy cục Lửa đỏ này về, màc còn cái lo nguy hiểm cho thân tâm.còn nếu không có dâm cơ này phát động thì có gì lo lắng nữa.
Cho nên Đức Thế` Tôn đã biết về sự lợi hại của dâm cơ này, khó tự mìh hoàn tất được mà phải cầu Chân sư chỉ truyền cho Chân thiệt pháp,mới đoạn được dâm cơ trọn vẹn.
Cho nên , Sát Thiền sư mới nói:
Tồ ý Như Không thị bất không.
Linh cơ tranh đoạt hữu vi công.
Pháp này rất giản dị,nếu có túc duyên về Thiện căn, dù đã đối diện với Chân sư cũng không nghe được Chánh pháp. Đã không nghe được Chánh pháp thì dâm cơ làm sao đoạn được!.
Nếu không tiến tới luyện hư Tâm, cầu Chân sư chỉ truyền, dù cho có thiên tu vạn luyện, cũng không tránh khỏi cái hoạn tẩu thất.
Cho nên phái Tòng lâm ngày nay, vì đa mang nghiệp chướng , nên chẳng đắc pháp và không có một người được thành tựu,.
Tăng sung Quân hỏi: Dâm cơ là vật gì vậy?
Đáp: dâm cơ là hình ở trong, dâm căn là hình bên ngoài.Chẳng biết pháp tu luyện thì Thân và tâm đều bị kéo lôi theo cơ dâm đó. Cho nên mạnh Tử mới nói:Khí cũng hay làm dao động đến chí
.
hỏi: Có pháp gỉ để chế phục.
Đáp: Neếu đắc được Chân quyết, lập tức lấy Thầnchủ sử thì dâm cơ tự dừng, Mạnh Tử mới nói: Chí là một vị Tướng sóai. Lấy hô hấp thu nhiếp thì khí tự quy, Đạt Ma tổ sư gọi là Thể thủ. Thần tức là Lửa, hơi thở là gió.
Cơ pháp tuy nói là khí, mà bên trong thực có vật tư của Lậu tận. Nếu chẳng tại đây hà luyện thì Thân và Tâm sẽ bị dẫn theo dâm cơ.
Lất Đơn điền làm lò, lấy hạp tịch làm ống bể, lấy Lửa mà luyện, lấy gió mà thổi, lấy hơi ấm làm hiệu nghiệm, lấy sương khói làm vô sự.

Lâu lâu hà luyện thì dâm cơ tự chết, dâm tính tự đoạn,. Đoạn cho đến còn một rồi không thì thân tâm thái bình, ba giống dâm sự chẳng còntập nhóm nơi BỒ đề, có khó gì đâu.
Đây là bí pháp, ngàn đời Phật và Tổ chẳng truyền, mà nay ta đã tận hết lậu.
Là con nhà Thích, mà chẳng tu đoạn dâm sự, lại gọi là Thiện trí thức, lăng nghiêm kinh gọi đó là 53 giống ma vậy.
==tịch Vô Thiền sư viết: Kỳ cơ ký phát, ngưng Thần nhập ư Đơn điền, đương dụng Võ hỏa thâu nhiếp nhi quy, dĩ huân dĩ luyện. Cơ chi vị phát, dĩ thần chiếu chio Đơn điền, đương điện Văn hỏa bất li nhi thủ, dỉ phanh, dĩ luyện. Tợ thử nộ nhập, tài đắc Chân chủng phát sinh===.
Cơ tức là thận động. Thận động là Chân khí. Chân khí đã động lập tức hồi quang phản chiếu, ngưng thần nhập khÍ HUYỆT, TÌ Thần với Khí chẳng lìa nhau, tợ như đá nam châm hút sắt, rồi vượt qua chướng ngại vật và giấu kín rồi hanh thông, hiệp lại làm một.
Tổ sư lại còn sợ lúc lâm thời Chân dược sinh tợ như con mãnh hổ khó chế phục,nên phải dùng Võ hỏa, đó là Tiết tận Thiên cơ, với lòng đầy đức Từ bi vị chúng. Tu sĩ đời sau họa Phật đều nhờ cái ân mưa móc này.
Võ hỏa là mật pháp tu luyện, là bí cơ thành Phật. Phật Phật tâm thọ,Tổ Tổ khẩu rtruyền, hiểu thẳng thật khó.Cho nên ngũ tổ mới nói:Sư Sư mật phụ bản âm.
Thế Tôn và Đạt Ma tuy nêu hỏa hóa phong xuy nhưng Văn hỏa và Võ hỏa chưa chép rõ nơi tre lụa.. Cho nên người trong giới tu hành đã không Song tu mà cũng không tin tưởng.
Từ sau Đạt ma và Tịch Vô là những bậc Cao Tăng đã được được hình Thần cu diệu.
Có người hỏi: Sao gọi là Võ hỏa nhiếp quy?
Đáp: là dùng khí hô hấp mạnh thu nhiếp Chân dược quy Lư và chẳng hề xa rời Chân ý, lấy Chân ý làm chủ tể. Cho nên nói: Chân khí theo duổi hai khí, rồi cổ vũ,rổi nhiếp quy, ciũng đều tại Chân ý, năng lực của Chân ý.
Chân dược sau khi sanh ra có đặc tính hạ Lưu thuận xuất, nên mượn khí hố hấp mà nhiếp thu. Nếu chẳng dùng kinh nghiệm hô hấp mà cổ vũ, thì một thần khó nhiếp mà Chân dược cũng khó quy. Hai khí nguyên có kiêm dụng, cho nên Thiền sư mới nói: Nhà ngươi có cái tri\ụ trượng tử. Ta và ngươi cũng đồng có một cái Trụ tượng tử. Đó là thí dụ hai khí ở cơ đồng dụng.
Theo đúng cơ hô hấp. Chân ý của ta ra từ ngoài âm kiều mà nghinh nhiếp Chân dược quy Lư. Đạt ma gọi Thể thủ. Thể thủ hoặc mươi nghinh, hoặc vài mươi nghinh, nghinh cho đến khi nào ngoại hình đảo thế mới nghỉ.Tiên gia gọi quy túc Suốt thông được hai khí này về cơ hạp tịch và tiêu tứcthì Chân tinh tự quy Lư.
Lúc vận dụng hai khí, Chân ý nới Lư trung không được chấp trước ở hô hấp mà chỉ nưong theo Chân dược để Thể thủ. Chẳng qua cũng chỉ là mượn cơ hô hấp công cụ Thể thủ. Lục tổ gọi: vãng bắc tiếp độ.
Chân dược đã quy Lư, còn phải huân chưn,lấy Chân ý tịnh định mà làm hỏa, lấy hới thở để thì làm gió, nung nấu một lúc thì vật tư của lậu tận hóa thành Chân khí.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 11:09 am

Công phu này phải dùng sức mạnh của Chân ý với dạng trì trọng, gọi là Võ hỏa.
Hỏi: Sao gọi là văn hỏa?.
Đáp: là bất tồn nhi thủ, bất tức nhi khư. Thời thời khắ khắc bất muội tỉnh ngộ, miên miên bất đoạn, tức tức qui Lư. Cồ đức có nói:
Trượng vãng truợng lai vô gián đoạn
Xá lợi thành toàn hiệp bản sơ.
Tối kỵ hôn mê tán loạn, một niệm chẳng khởi,một khí chẳng tán, tợ như giống Lưa trong lò.
Tu luyẹn được nhu vậy, lo gì Chân chủng chẳng sinh, Xá lợi chẳng hết, Chánh giác chẳng thành.
====thích gia phổ Thế Tôn viết: Đối đẩu minh tinh nhi ngộ Đạo.
đối Trung Hoa gọi là Phản quán.
Đẩu: là bắc đẩu, là thí dụ Đơn diền.
Minh tinh:là Chân khí nơi Đơn điền phát sinh. Chính là cảnh Chân chủng sở sản.
Hưng Dương Thiền sư nói: tạp (một vòng) địa hồng luân (bánh xe)tú. Hải để tức khai hoa.
===viên Thông Thiền sư viết:
bắc đảu tàng thân tuy hữu ngộ.
Xuất trần tiêu tức thiểu nhơn tri==.
Tàng thân: là Chân khí ẩn tàng nơi Đơn điền. Chân khí ần tàng nơi nào thì Chơn thần củng ẩn tàng nơi đó. Đó là cách dụng công như vậy, nếu chẳng như vậy thià làm sao xuất li cõi trần được. Xuất trấn là quá quan phục thực, là một bí quyết thâm mật, không được khinh truyền.
Nếu chẳng quá quan hay không biết pháp Quá quan, thì Xá lợi phải bị hao tán, tận phế tiền công. cho nên Hưng Dương Thiền sư mới nói: Thối nhất bộ tắc thất sự. Nên nói: Xuất trần tiêu tức thiểu nhơn tri.
====thử thượng số giả, Huệ mạng kinh chi diệu pháp, hòa hiệp Chân chủng chi Thiên cơ,thà tại tư dư, I kỳ phong hỏa chi công,diệc bất ngoại thị hỉ.=======
đây là tiết tổng kêt phần văn trên nói về pháp nhòa hiệp Chân chủng nới phong hỏa, Có Thánh chẳng khứng toàn lộ, nên nguời tu luyện đà rơi vào nẻo vạy.
Ta nay lại nói cạn lời, phân tích tỏ rõ, hầu mng đồng chí được suốt thông,trước khỏi lạc nẻo bàng môn, sau thành Chánh giác. Còn người đời,nếu có ai thích Phật,tì tiềm tâm nơi kinh này, rồi tự tu, tự cứng, để thánh Chánh quả, há chẳng vui sao?.
====dư cố viết: Tự thủy ngưng Thần, phản chiéu Long cung, hồn nhiên nhi định tịnh.Dĩ song vong nhi đải động. Dĩ ý khí nhi đồng dụng. Dĩ thần hỏa nhi hóa. Dĩ tức phong nhi xuy; dĩ võ nhi luyện, dĩ văn nhi thủ. Cửu cửu huân chưn, khắ khắc vô gián. Yù khí Lưởng bất tương li. Tắc hòa hệp ngưng tập chi phap đắc hỉ.
Đoạn văn này tổng kết về pháp hòa hiệp ở Chân chủng Phong hỏa, mà Cổ thánh chẳng khứn toàn lộ.
Long cung; lá Đơn điền,trong đó có nước,. Long cung có nước. Nước có đặc tính trầm trọng và luôn luôn hạ Lưu.
Thần tức là hỏa, hỏa có đặc tính kinh phù, thường thường thuợng xung..
Cũng như người đời tâm hỏa thì thượng xung,, Thân thủy thì hạ lậu. Hai thành phần đó hằng li cách nhau, hằng phân tán,nên không thành Đạo. Thánh nhân mới dạy lất tâm hỏa giáng nhập vào Thận thủy, thì tâm tự hư không, mà hỏa cũng không còn thượng lậu. Còn thủy đắc được hỏa, thủy cũng không còn hạ lậu và hóa thành Chân khí. Chân khí sẽ được thượng thăng.
Trong lúc ngưng Thần thì nội niệm bất xuất, ngoại niệm bất nhập, không không ,lộng lộng chẳng trước chẳng trệ. Lúc Chân dược sản lập hồi quang phản chiếu thì quên hình quên ý.
Nếu dụng ý tức là chẳng quên nếu quên thì không được lấy ý mà chiếu. Tâm đã hư không mới gọi là chiếu. Lòng dục đã mất hết mới gọi là vong. Chiếu với vong tuy hai mà một, tuy một mà hai.
Lúc đánh quên thì tâm phải thật thanh tịnh , mà luôn luôn phải chiếu. Lúc đương chiếu thì một mảy hình tướng cũng không taọ lập, luôn luôn là quên.
Chiếu với vong đã thuần nhất định tịnh, thiênđịa nhơn ngã chẳng cần biết sẽ đi về đâu.
Còn trạng thái công phu chờ động phải thật cực tịnh. Thình lình trong người có trạng thái dung dung, hòa hòa, ngoại hình vũ cử, lập tức dùng Chân ý mà nghinh Chân dược qui Lư, rồi lấy Thần trụ định nơi trong, lấy hô hấp mà thổi.Lại phải nhớ là chớ trợ Lực,và chớ nên quên.hành trụ tọa ngọa cũng không được lìa báu vật, lo gì Chân chưng chẳng sản.
===bất văn đắc Đạo cổ Nho chi ngôn hồ:
hoảng hốt âm dương sơ biến hóa
nhân ôn Thiên địa sạ hồi triền.====
từ đây trở xuống nói về thời Chân chuủng sở sản.
Cổ nho tức iên sinh thiệu khương Tiết.
Chúng ta là con nhà thích giáo, thề mà không hiểu không biết về điều Thiên cơ bí mật này, lại cho môn đệ của Nho giáo, không biết Chân truyền của nền Đại đạo. còn bản thân mình cư mãi ù lo đả thất, quỳ hương, tham Thoại đầu, luận công án… và gọi là Đắc đạó Thật là trò cười vậy!.
Hoảng hốt: là trong cơ tịnh định đã đạt thành một khối hồn nhiên, ngoài chẳng thấy có thân, trong không thấy có Tâm. Là trạng thái Thái cực cực tịnh, người như nửa thức nửa ngủ. Công phu đến trạng tháinầy thì khí Chon duơng bắt đầu động và phát sinh nguyên khí. Cho đến lúc Chân dương khí bắt đầu triền động thì sinh nguyên tinh.
Nếu người nào đắc được Chân truyền, lập tức Thể Chân dược này thâu quy về Lư.
Thường nhơn không biết, nên Chân dược này biến thành hữu hình tinh rồi tẩu xuất.
==lục tổ Đàn kinh viết: Nhân địa quả hườn sinh==.
Địa; là đơn điền, là Thần thất, lá Linh địa, lá nơi quả sinh.
Quả hưòn sinh: Tiết trước đả nói; Hữu tình lai hạ chủng là do cơ hòa hiệp mà có. Công phu đến đây mới có quà sinh.
Quả tức Bồ đề chủng tử, là Xá lợi tử.
==vô Lượng Quang Minh Như Lai viết:
phân minh động tịnh ưng vô tướng.
Bất giác long cung hộng Nhât tinh.

Vô tướng: Thính giác gọi là oai âm,, Nho giáo gọi là vô cực.
Bửu vật này nguyên từ đầu vốn không có hình tướng do tịnh định mới sinh.
Long cung: Là đơn điền, là Tổ khiếu, là Nhân địa, là Cốc Thần.
Hộng Nhất thinh: Là quả sinh. Nho gọi: Đổ vũ nhất thinh Xuân hữu. Là dương khí sinh.
Biết được cơ hộng nhât thinh, thì nước động thủy (Khảm cung) có thể nối dòng, nuớc tây giang (Ly cung) có thể thu hút, nước bể (khảm thủy), có thể gội đầu.
Lại nói: Địa lôi chấn động tốn môn khai.
Lại nói: lôi tùng địa hướng (gầm).
==tử ma Kim Lai viết: Hải để nê tự lộ bán hình.
hải để: là Đơn điền,Hoa Dương thiền sưb cũng nói: Hải để là Nguyên quật tàng chứa Huệ mạng. Thế Tôn gọi: Ma ni. Là nơi thần khí hòa hiệp để luyện thành Chân chủng tử.
Lộ bán hình: Là pháp tượng Chân chủng gần sản.
Lúc Chân củng tử mới lộ nửa hình. Tu sĩ phải tịnh, Thần trụ nơi Cốc Thần để chờ, không được gấp Thể thủ. Chờ cho châu nọ lộ toàn hình mới hạ công Thể thủ.nếu gấp và luyện động thì trâu nọ kinh hoảng rồi ẩn tàng vô tông tích.
Viên Thông Thiền sư gọ là bất sah.
Tích Vô Thiền sư nói: Tất tu nguyên khiếu sinh vật. Tư khà duơng Lư phát hỏa. Cố mạc vi chi Tiên, diệc mạc vi chi hậu.Nhuợc thiên cơ vị chí nhi Tiên trợ tưởng, tắc ngoại tướng tuy hành, nhi nội phù nhị ứng. Thích tự phủ phàn khu chi hung!, nghĩa là:
Cần phải tạo cho huyền quan khiếu sinh bửu vật, Lúc đó thì dương Lư mới phát hỏa, cho nên chẳng được thể trước, mà cũng không đuợc Thể thủ sau. Nếu Thiên cơ chưa đến mà lo phát hỏa,dù ngoại tướng tuy có vận hành, nhưng nội phù cũng không ứng theo.
Ngoại tướng là nói vể đường đốc Mạch.
Nội phù là nói về đường Nhâm mạch.
Như vậy chỉ là thiêu đốt cơ thể mà thôi!.
` Viên Thông Thiền sư viết:
mai Hoa vị phát thái tảo sanh
mai Hoa dĩ phát thái trì sanh.
Mai Hoa là tín hiệu bápo thời Xuân dương sắp đến. Còn trong người thì thí dụ cái cảnh khí Chơn dương sắp phát sinh.
Vị phát: Là khí Chân dương mới gần phát động, chứ chưa phát động. Lúc nầy nếu vội thể thủ là sai lầm, vì Chân dược còn non, không kết Đơn, nên gọi: Thái tảo sanh.
Dĩ phát: là khí Chân dương đã phát hiện toàn hình, gọi là triền động, lập tức thể thủ quy Lư. Nếu Chân dược đã lộ toàn hình mà không thể thủ, đem về trung cung , thì nó sẽ biến thành hữu hình tinh, gọi là Thuốc già sẽ không kết Xá Lợi, nên gọi thái trừ sanh,
Viên Ngộ Thiền sư nói:
Tấn nhất bộ tắc hữu mê lý.
Thối nhất bộ tắc sự tất thành.
Hựu viết: Nhẩm ma tắc phong xương đo khiết tận độc chiếm phổ Thiên xuân.
Nhẩm ma : là thí dụ về thời cơ đúng lệ.
Phong xương khiết tận: là thí dụ âm khí đã tận tuyệt.
Xuân dương là thí dụ khí Thuần dương nơi Đơn điền. Cảnh tượng này. Cơ thể ta tợ như tắm như gọi châu thân dung hòa sướng khoái, chẳng có gì sánh bằng. Trong ngoài thảy đều Thiên Thái, đố là Chân cảnh của Chân chủng.
Hựu viết: Thiết tu đạo trước.
Đây là lới của tô sư dặn dò TU sỉ, nếu thỉ cảnh naỳ đến, tức phải hưng công thâu thủ, nếu chẳng tâu thâu thủ ắt có lỗi lầm trước mắt, là trử vật này sẽ theo đường thục lộ mà ra ngoài.
Hưng Duơng Thiền su nói:Thối hậu tắc thất sự.
Công phu Thể thiủ Chân dược tợ như kẻ rộm cưỡng đoạt bửu vật nên gọi là: Thiết tu đạo trước.
Lúc này Chân ý phải thật dũng mãnh, dùng hơi thở để thu niếp, đem Chân chủng này trở về Đn Lư. Sau đó phải dụng công Pháp luân.
Tích vô thiền sư viết: chí ư lục hiệp đồng Xuân, vật vật đắc sở.
Lục hiệp: là châu thân con nguời.
Xuân: Là nói về dạng âm ấm trong con người.
Vật : là tên riêng biệt của Thích giáo.
Nho giáo gọi là Nguyên khí.
Công đáo rthời chí: là lúc Chân dược sản, hốt nhiên Đơn điền tợ nhu âm dương hòa hiệp thấm thấu, mạch sống trong người khoái sướng, tất cà tám vạn bốn ngàn khiếu nhỏ có dạng ngứa ngáy. Thân tâm dườngnhư vô chủ, Đơn điền lần lần mờ ở, ngoại thạn đột nhiên cất lên.Long cung hốt nhiên có một tiếng gầm, hô hấp tự nhiên ngắt đoạn, Tâm và bửu vật hút nhau tợ như có đá Nam châm hút sắt. Chân ý và hơi thở bao hàm với nhau như loài trùng ần trốn. Thình lình Tâm hồn nhập vào trạng thái Thái cực, như nửa tỉnh nửa mê. Thiên địa nhơn ngã chẳng biết về đâu. Thần với Khí như xen lẫn chìm ngấm.
Chẳng phải như Thiền khô tịch ngày nay, tâm hồn tợ như hoản hoản hốt hốt. Tâm chẳng khún lìa bỏ linh vật. Linh vật chẳng khứn lìa bỏ tâm.Tuơng thân , tương luyến kết thành một khối. Cảnh tượnh nơi tronhg tợ như khí Tiên Thiên và Hậu thiên cùng nhau thở hút, nhưng thiệt chưa thấy thở thấy hút.Tợ tiế, tợ lậu, mà thiệt cũng chưa thất tiết lậu, cơ huyền diệu không thể lấy ngôn ngữ để hình dung.
Cho nên tâm kinh giải mới nói:một khí Chân duơng mới động, trong đó vốn có vô số hơi thở vi vi, rồi chỉ rong giây lát hóa thành trạng thái Tghái cực, Tâm này trở thành linh diệu. Cơ hô hấp dấy lên từ Chân khí nơi Đơn diền, tại giánhg hạ rồi ra sau đến vỹ Lư, lên Giáp tích, lên Ngọc Chẩm.
Lúc nào Chân khí thật sung mãn thì Nhâm Đốc tụ khai. Khi tấn thì nhanhm thể thủ quy nguyên chuyển đại Pháp luân.
Nếu chẳng dụng công như vậy thì Nguyên tinhsẽ tràn đầy và tiết lậu ra ngoài, ắt tiền công tận phế.

Thiên này toàn thiết thiên cơ.
Ta đã trải qua 30 năm mới đắc Diệu đạo. Tu sĩ đời sau hành công đến chỗ này phải nên nhớ kỹ, nhiớ kỹ, chẳng nên coi thuờng lúc có cảnh tượng tín báo. chỉ được Duong quang tam hiệp, tức là Chân chủng sở sản. Chẳng cần phải theo quy tắc nào khác, lại còn phân biệt bẩm thọ, hình thể đồng nhau hay khác biệt.
===đạt ma Tổ sư viết: nhị hầu hể mâu ni.
Tiền Hượt Tí thời là một hầu.Chân chủng sở sản là một hầu. Là nhị hầu Thề mâu ni.
==hựu viết:nhị hầu Thể mâu ni tứ hầu hữu diệu dụng, lụa hầu biệt Thần công.
tiết trước nói hai hầu sanh và hầu sản. Còn đây gọi là hai hầu, là hầu thể thủ và hầu phong cố. tu sĩ họa phật cần cần nên hiểu rõ, chẳng có một khái luận, như trong Pháp luân lụa hầu đồ đã nói minh bạch rồi.
Còn ở đây hai hầu là: lúc Chân chủng sản thể quy Lư là một hầu. Lư trung phong cố là một hầu, cộng lại là hai hầu.
Linh vật đã quy Lư rồi thì phải thăng giáng. Thăng là một hầu, giámh là một hầu.
Công với hai hầu Mộc dục Mẹo dậu,là 6 hầu.
Tứ hầu hữu hiệu dụn g là: thăng giáng và hai giờ Mộc dục.
Lục hầu biệt thần công là tổng số hầu.
==lục Tổ viết: vãng Bắc tiếp độ.
Vãng: là dùng Chân ý mà đi đến.
Bắc;Là thận mạng, là Cốc thần.
Tiếp: Là dùng Chân ý mà tiếp thu linh vật.
Độ: là thăng giánh vãng lai.
==tịch VôThiền sư viết: Thể thủ dĩ thăng giáng. Tùng đốc Mạch thượng đảnh nê hườn. Tùng nhâm mạch giáng hạ Đơn diền.
Nhâm và Dốc hai mạch là Đạo lộ của pháp luân vãng lai.
Nhâm mạch khởi hành từ huyệt hội âm đi lên đến thừa tướng rồi vào đường trong mà trở về.
Đốc mạch khởi hành từ Ngân xỉ lên Thiên môn, ra Ngọc chẩm, xuống Giáp tích, xuống Trường cuờng rồi theo con đường trong mà về.
Đó là quy luật vận chuyển âm dương hậu thiên tợ như kim đồng hồ, Tiên gia gọi: huận chuyển hà xa.
Thuận chuyển hà xa thì sanh người sanh vật.
Nghịch chuyển hà xa thì tác phật tác Tiên.
Nghịch chu xa, Tiên gia gọi Châu thiên vận, Thiền gia gọi pháp luân thường chuyển, nho gia gọi hành đình.
Châu thiên vận mục đích để điều hòa nội duợc để khai thông đạo lộ chờ ngày quá quan để dạt trường sanh ất lão.
Lúc hai mạch n ày thông thì trăm mạch cũng đều thông.
==dịch kinh viết: Hạp hô vị chi khôn
tịch hộ vị chi Càn. Nhất hạp nhất tịch vị chi biến, vãng lai bất cùng vị chi thông=.
Đây là sở dụng cơ tiêu tức đối với hai khí để chuyển Pháp luân.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 11:10 am

Phần kinh văn nói về sự tu luyện cuủa Thích tạng, Tiền bối cũng nói như vậy. Lại là công phu đầu Tiên của kinh lăng nghiêm và kinh Pháp hoa.
Còn Nho gia lại lấy kinh Dịch làm thủ vụ. Thái ấp, chùa hải hội, Phương trượng Long Giang hỏi: Tây phương phạn ngữ, chưa thấy chỗ nào nói đến Dịch nay lại chép ra đây, là điều chẳng hạp với Thích giáo chăng?
Đáp: nếu chấp ở một thì chẳng minh ở hai. Chỗ tu học của nhà ngươi chỉ là bàng môn mà thôi!
Caí đạo của Thích Ca không phải như vậy. Trăm ngàn đời về trước, trăm ngàn đời về sau đối với người đời: Tam giáo hà có hai đường sao?
Thù bất tri, nguyên đầu của Dịch là của Tổ, của Đạo.
Lại hỏi: Đã là Đơn Kinh, mà ngày nay Nho lấy Dịch làm sách bói toán, chưa từng nghe họ nói đó là sách tu luyện, là tại sao vậy?
Đáp: thời văn bốc phệ là của tục Nho, chẳng phải là bậc xuất chúng của Nho chánh thống.
Lại hỏi: Kinh ấy dạy tu luyện như thế nào?
Đáp: Đạo dụng Tiên Thiên, và mượn khí Hậu Thiên để chuyển Pháp luân. Hạp lộ tức là pháp cơ. Hấp cơ vãng hạ nên gọi không.
Tịch hô tức hô cơ. Hô cơ vãng thượng nên gọi Càng. Đó là cái lý nhất biên của Hậu Thiên.
Biến là cơ Tiêu tức của hai quẻ Càn khôn.
Thí dụ như chiếc xe. Càn khôn là hai bánh xe biến thành trục xe. Trục xe vốn không chuyển động. chỉ nhờ ở hai đầu trục. Hai đầu trục lại nhờ ở hai bành. Hai bánh lài nhở ở hạp tích thổi thúc.
Xe chờ trục mà chuyển động. Trục lại chờ bánh mà vận triền. Bánh xe lại chờ hạp tịch mà thôi bức. Thì sở dụng của xe mới hoàn toàn.
Nếu như chưa thấu hiểu thì tham khảo nơi Lục hầu đồ. Chẳng còn gì kỳ diệu bằng.
Vãng lai bất cùng: là cơ Tiêu tức của hai khí Tiên thiên và Hậu thiên vận chuyển.
Thông: là thông đạt đươc Huyền Quan Tổ khiếu, và cơ Càn Khôn công vận.
Nếu dùng hô hấp của miệng mũi và gọi một hô một hấp là vãng lai bất cùng, thì cách xa với Tiên Thiên Đại Đạo.
Hòi: Như vậy thì phải dụng công như thế nào?
Đáp: Lấy Hậu thiên phàm tức chế hoá ra Tiên Thiên Chân tức. Hô cơ vi tịch vi Càn hấp cơ vi hạp vi Khôn.
Càn Khôn là định vị của Thiên Địa.
Ngôi đầu của con ngưiời gọi là Càn, phần bụng gọi là Khôn.
Cơ biến thuộc chủ thể của Càn Khôn, là Chân ý của ta, chủ sử cho hai khí vận chuyển. Lúc lên lúc xuống, lên xuống mãi mãi nên gọi: Vãng lai bất cùng.
Lúc thăng giáng, Chân ý tuy là chủ tể ở Cốc Thần mà Thần lại chú trọng cùng với Tiên Thiên Chân tức đồng hành, chẳng qua cũng là mượn cơ hạp tịch của Hậu thiên để vận chuyển Tiên Thiên khí vậy.
Hỏi: Đệ tử ngu muội, mong cdầ lão su Chân truyền chí lý dụng.
Chỉ thiệt là điều có lỗi mà nói ra đây, Đức thế Tôn cónói: Độ tận chúng sanh, rồi mới tu độ thì dâu có lỗi. Huống chi Thiền giáo ngày nay lại không có Songtu.
Đáp: Đây là bí cơ chuyển Pháp luân, ngàn đời chẳng khứn minh ngôn, tâm Tổ không lời chỉ phá. Trong diệu lại diệu, trong vi lại vi. Chẳng phải phàm phu mới có thể nghe. Chẳng có túc duyên Thiện căn, làm sao nghe được.
Lại nói: đệ tử khẩn cầu Hòa thượng thùy ân.
Đáp:Hạp hấp tuy là hạ Khôn, mà Nguyên khí ở nơi Khôn lại thăng lên Càn.
Tịch hô tuy là lên Càn, mà Nbguyên khí nơ càn lại giáng xuống khôn, mà mhuyên khí nơi Cànlại giámg xuống Khôn.
Đều do hai khí thăng giág nơi đường Đạo lộ. Cộng với Cốc trụ của càn Kôn, thông với Tiêu tức của Nguyên quan mà chủ tể tại nơi Chân ý.
Vận hành đều ở nơi Thần, một hấp một thăng, một hộ một giáng,chẳng được sai một mảy lông, tuân theo qui tắc, hành đúng độ số. Cũng không đựơc thái quá. Càn cửu Khôn, tứ điệp thành chương, hiệp hồ Tạo hóa, đồng với chuyển luân. Chẳng thiên, chẳng ỷ, chánh chánh đường đường,nưng theo Tam gíao. Tất cả đều do ở đây.
==hựu viết ; càn hào dụng cửu,Khôn hào dụng lục.
Tiết này nói về quy tắc và hạn số của Pháp luân.
Càn dụng cửu là; 4x9:36.
Khôn dụng lục là : 4x6: 24.
Từ xưa Cổ nhân goí: Từ thất qui đến lục quy gọi là thăng. Thăng để hiệp với Càn, nên dùng Càn hào, càn sach.
Càn hào dụng cửu, mà tứ điệp là 36. Cho nên Pháp luân thăng cũng dụng cửu, đồng với Tứ điệp củq Càn sách. Tổng cộng Lụa hào tứ điệp là 216. Cho nên về thăng tổng cộng ở lụa quy cũng 216, gọi là thăng.
Theo nhưng trước đã nói: Từ nhất qui đến lục quy gọi là Giáng. Giáng để hiệp với Khôn, nên dùng Khôn hào Khôn sách.
Khôn hào dụng lục, kịp với 71 điệp là 24. Cho nên Pháp luân Giáng cũng dụng lục, đồng vơi tứ điệp của Khôn sách. Tổng cộng với lục hào tứ điệp là 144. Cho nên Giáng tổng cộng ở lục quy cũng là 144, goị là Giáng. Cộng chung lại là 360 tức hoàn toàn độ số của chuyển pháp luân.
Trong đó có Mộc dục 2 quy, nếu chẳng dùng Cửu lục tứ điệp , thì không đủ 360.
Còn có số nhuận dư Châu Thiên 24 mới gọi là Viên mãn Châu Thiên hạp với 384 hào của Dịch lý.
Số nhuận dư Châu Thiêm 24, là số gia vào 2 giờ,Mộc dục bình quân.
==Hoa nghiêm kinh viết:Cư Phật định năng hơn thời chuyển diệu Pháp luân.
Đây là pháp thí dụ về Mộc dục nhị quy.
Đ5nh năng ứngthoời:Là hai giới Địa Mộc dục, Nho gọi là hai thời Mẹo Dậu,Thích cũng gọi là Thời. Nếu chẳng nói thời thì nhân duyên nào có ứng thời.
Định: là gọi hai thời chẳng vận hành hô hấp. Thần với Khí nương nhau giữ nhau, định rồi lại vận chuyển. Nho gọi hai giờ đó là phương sanh sát, hại đức, tương phản, chẳng nên hữu sự, hay định giữ việc không đâu.
Lúc vận hành Pháp luân, trong từnmg mỗi quy đều có pháp Mộc dục.
Có kẻ hỏi: Chỉ nghe Đông Tây có Mộc dục nhưng chưa được nghe từng mỗi quy đều có Mộc dục, cầu xin Lão sư khải thị?
Hoa Dương nói: lúc chuyển Pháp luân, thì cái khí của hô hập tợ như xe nước bờ sông cứ một bậc là có một miếng ván, một tấm vận lên, một tấm vận xuống.Nếu như công phu mà chẳng có từng quy, thì lấy gì mà vận cho tới Càn thiên. Cho dù có vận cũng chẳng hiệp với cốt tuỷ của Pháp luân, và chẳng thành bộ vị của pháp cứ luyện hỗn loạn như vậy thì không thành.
Lại hỏi : Đệ tử ngu muội nên khó ngộ nhập, xin cầu thỉnh vấn.
Đáp: lúc vận hành Pháp luân , thì cái khí hô hấp có cơ hồi chuyển. Cứ tới chỗ hồi chuyển là có Mộc dục.
Lại hỏi: Sao gọi là Mộc dục?
Đáp: Hô hấp thồi là Mộc dục , hô hấp tấn cũng là Mộc dục. Là do sự chia ra trước sau.
-== Khích gia phổ Thế Tôn viết:nhập trì Mộc dục.
Trì: là ao phía Đông phiá Tây. THẾ Tôn sau khi thất mình minh tinh lập tức vào hai sao mà Mộc dục và huân chưn.
Pháp này từ Hán đến nay, những người đắc được đều giấu kín , chỉ có Tịch vô Tổ sư mới lộ.
== Hoa Nghiêm Kinh viết: Vi tiển Như Lai sở hành chi Đạo, bất trì bất tấp, sát đế kinh thành.
Đạo: Là đạo lộ là đường Nhâm Đốc.
Bất trì bất tốc: Chẳng chậm chẳng nhanh, lấy hô hấp mà định pháp tắc.
Sát đế kinh hành: Phàm vận hành pháp luân, Thần với Khí tấồng hành đồng trụ. Nếu đi lạc đường khác, mịt mờ chẳng theo đúng đạo lộ mà vận hành thì không thể nào thành Xá lợi.
== Như Lai viết: Bất đắc cần, bất đắc đải.
Phàm vận hành Pháp luân phải hiệp với tự nhiên, đồng với Đại Đạo. nếu siêng năng đến độ tháiquá, thì Phong hỏa Pháp luân chẳng được vận chuyển và Lửa hừng lên không chế phục.
Còn giải đải thì bất cập, tức gió yếu luốc làm sao có công trưởng vượng và biến hóa được.
== Nhiên Đăng Phật viết: thường chuyển Pháp luân.
Pháp luân là tiếng Phạn ngữ của Tây phương. Trung Hoa gọi là tấn thối, thăng giáng. Tiê gia gọi Châu Thiên vận. là nói về cơ vận hành Chân khí theo đường Đạo lộ Nhâm Đốc.
Các giờ công pu , lúc Thể Chân dược quy Lư, đề chyển Pháp luân.
Lúc Chân dược phát sinh, nếu không dụng công chuyển Pháp luân thì Chân dược sẽ bị tán thất,lậu tận không thành, Xa lợi không kết.
==Thế Tôn viết: Thường chuyển như thị diệu Pháp luân.
Diệu; là huyền diệu,là mầu nhiệm, không thề dùng ngôn từ diễn tả hình dung được, cho nên noí: diệu. Còn nếu không hậu học làm sao ngộ hập được. Chỉ có hai lẽ là đắc Sư với không đắc Sư. Đại Đạo quá huyền diệu. Nên có vị nào dám toàn tiết đâu.
Ta thất trong đời chẳng có ngừi nào Song tu, nên đặc biệt chỉ có xuất ra, để cho họa tấn thấu đến chỗ tinh vi.
Diệu ở đây là nói về cơ Tiêu tức. Biết rõ được thì thấy rất giản, rất dị.chẳng hiểu rõ thì thật khó, thật khó! Thí dụ tự đánh vào chuông tiếng vang, tức la pháp luân. Thiên địa tạo hóa đều quy vào pgáp luân. Chúng ta có thể xem cái cối xay kia, củng như cái chuông thì hiểu đuợc pháp luân.
Có kẻ hói: chuông với cối xay, sao ví lá Đạo?
Đáp:Chông có tiếng vang là thí dụ hô hấp. Lúc đánh chuông thì trong lòng chuông gì có một chủng tử xoay tròn , tức là Nguyên khí.
Còn cối xay kia cũng thí dụ về hô hấp. Cối lúc vận chuyển tương tợ như Chân khí vận chuyẻn theo đường Đạo lộ. Cơ hạp tịch Tiêu tức cũng như vật.
Cối xay thì thất tấn mà không thấy được thối, nhưng thực trong đó có một luồng không khí thối.
Còn chuơng, lúc đámh thì trong lòng có một luồng loang tử, là có thuận chuyển gọi là tấn, và có nghịch chuyển gọi là thối.
==lục Tổ viết: Ngô hữu Nhất vật thượng trụ thiên ,hạ trụ địa.
Vật: Nho gọi Nguyên khí.
Trụ thiên:Tức từ dưới thăng lên Càn đảnh.
Trụ địa:tức từ Càn đảnh giáng xuống Khôn phúc.
==thích Gia Phổ viết: Hải thủy quán Thái tử đảnh.
Hải: là Đơn điền. Thủy là Đơn khí.
Thích gia thí dụ là Tào khê thủy, động thủy động, Tây giang thủy.
Quán đảnh: là thượng thăng.
Thái tử: là Đ71c Thích ca.
==thế Tôn viết: hỏa hỏa dĩ hậu, thâu thủ Xá lợi.
Lờ nói này là nói về lú Xá lợi gần thành. Hỏa là Thần.Xá lợi còn đắc hỏa này mớ thành công.Sự thành công này tức làhiệu nghiệm, chẳng phải không hư mà không biết. Lúc Xá lợi thành thì nhà trống, lúc ban đêm được sáng trắng, Đơn điền nóng, Qui túc, thì lập tức dùng pháp Quá quan phục thực, đưa về Trung đình để lo công phu thập ngoạt hoài thai, gọi là Thâu tgủ.
=Hoa Nghiêm kinh viết: Cụ trượng phu hình, thành tựu Như Lai, mã âm tàng tướng.
Mả âm tàng tướng , thí dụ như con rùa rúc đầu vào mai,nên Tiên gia gọi quy túc.
Lúc nào ngoại Thân xem như không còn tông tích là Xá lợi đã thành. Nếu chỉ còn một mảy vi động cũng chưa thành. Tất phải còn luân, còn luyện. Nếu cghẳng vận chẳng luyện thì Chân dược phải còn non, sức còn vi nhược, khó mà xung quan. Lúc nào có cảnh hiệu nghiệm đến phải lập tực Chỉ hỏa. Nếu chẳng biết mà cứ mãi vong hành, dù Xá lợi đã thành cũng bị vọng hành dù Xá lợi đã thành cũng bị hỏa bức lậu , có khác nào phàm phu!.
Còn những vị Lão thành hoặc người đã liệt dương nên ngoại Thận không hề dấy lên mà cũng gọi là đã thành công, là điều lầm lỗi!
Có những người do tinh khí quá yuế nên tinh khiếu không cử ộng, tức phải gia công tu luyện cho chuyên cần thì tinh khiếu ắt động và có hy vọng.
==Thế Tôn viết: Năng bất từ A La Hán.
Bất tử là không chết, tức là Chân tánh mạng Tiên Thiên không bao giờ chết. Là nói về nhữbng ngưiời tu luyện đã được kết Xá Lợi thì đạt bất tử như đức Phật.
Đệ tử của Đức Thích Ca là Ca Diếp trụ thế 700 năm, sau nhờ đức Thế tôn truyền pháp được lên ngôi Nhị tổ. Bửu Chưởng Hoà Thượng trụ thế 1712 năm. sau gặp Đạt Ma Tổ sư truyền pháp Quá quan mới thành Chánh quả.
==Thử dĩ thượng gia ngôn chuyển Pháp luân thành Xá Lợi chi công, nhi Huệ mạng chi đạo tận tại tư dư.
Tiết nay tổng kết thượng văn về pháp tu kuyện thành Xá lợi bất tử.
== dư viết: thành Xá lợi chi đạo, công pháp thanh đa, viết Chơn Thần, viết Chân ý, viết Chân khí , viết Hô hấp, viết Chủ tể, viết Vận hành, nang dĩ bị ký.
phàm lâm cơ chuyển Pháp luân chi tế, nhất ý ngự nhị khí, nhi vận hành chi pháp, hựu hộ thần hiệp giữ Chân khí nhi đồng hành, bất khả khỉ vu tha./
kiến u thập nhị quy, toàn trựng hô hấp thôi bức.Dĩ tức số định kỳ pháp tắc tự thể, dĩ chí ư quy căn bất khả, tu du li dả. Lị tắc đoạn nhi bất tục, bất thành Xá lợi hỉ==
công pháp luyện thành Xá lợi tuiy có nhiều mà thiệt rất giản dị. Lúc mới công phu thì khó, nhưng khi đã tuần thục thỉ dễ. Thí dụ như người dệt vải. Lúc mới bắt đầu vào việc, tay Chân đầu mắt, rên dưới tả hữu đều chiếu tiếp trợ. Sơ họa sơ tu cũng vậy. Lúc chuyển Pháp luân,Chân ý chủ tại Đơn điền mà làm luân tâm, Thần vận Cjhân kmhí mà làm luân qua, hô hấp thôi bức là làm luân cảo.m Cũng đều cơ Tiêu tức tự nhiên như nhiên mà ra, có gì là khó.
Tâm không hề ngĩ đến việc khác, ngoài công phu vận chuyển Pháp luân. Rong dứt tư Lự, ngoài trừ tai mắt. Cỉ có một điểm Chơn tyhầnđiều lãnhChân khí tuần hườn. Nếu có một mảy tự niệm thì Chân khí sẽ bị tán thất nơi đường biệt lộ, hóa ra không chuyển luốn thành vô ích.
Về độ số thì mỗi bộ có tứ điệp. Thăng lên là dương, dương là càn.Càn dụng cửu, 4x9:36.
Càn số tổng cộng tứ điệp của sáu hào là 2 216.
Giáng là âm, âm là Khôn. Khôn dụng lục, 4x6:24. Khôn sách thì tổng cộng tứ điệp của sáu hào lã. Cộng thành 360 là độ số của cơ vận chuyển Pháp luân bộ hạn.Chẳng có một mày sai lầm về qui tắc thì có huyền diệu,.Nếu chẳng dụng công giống y như vậy thì vạn vô nhất thành. Pháp này từ nhà Hán đến nay bí mật không truyền.Chỉ trong Phật tương ấn., Tổ Tổ khẩu truyền. Ta nay toàn bị tiết tận, mong người có chí sớm thành Đại Đạo.
Về độ số 360, thiệt ra chẳng phải là 360 mà chỉ là con số thí dụ mà thôi. Thí dụ nhưn cái bánh xe có 24 cây chống,nhưng nếu trước sau vận chyển một hồi tì thành ra 48 cây tăm, gọi là nhât hồi Pháp luân, mà luân của ngoại luân là 360 số, thiệt không sai thất. Cho nên gọi 360 số vậy.
==bất văn Thế Tôn dử Ca Diếp chi ngôn hồ: Chánh pháp nhản tạnh.
Đây là bí pháp thiên cơ thể Xá lợi nên gọi là Chánh pháp. Nhản là conmắt,, là nơi Thần nương tại Con mắt đến đâu thì thần đến đó.
==hựu dử A Nan viết: Nhược bất tri Tâm mục sỡ tại, tắc bất năng hàng phục trần lao.
Đây là diệu chỉ của Lăng nghiêm, và là bí cơ Thể thủ, Xá lợi. Nếu chẳng dùng tâm mục mà Thể thủ thì Xá lợi làm sao quy Lư. Cũng như không biết chỗ sở tại của Tâm m ụcthì Xá lợi quy về đâu.Sở tại ở đây là Chánh pháp nhản tạng, như tiết trênđã nói.
Công phu Thể thủ thiệt có cái lạ: Thể thủ liên tục, vào khoản bảy ngày, thì Đơn điền lần lần ôn noãn, kết thành Xá lợi, hình dáng ơ như hỏa châu, hiệu nghiệm lần lần đến cảnh huyền diệu, chẳng khá ví kịp.
Lúc Thể thủ, Thần dung chuyên thị Đơn diền, không được giây phút gián đoạn chia lìa, nếu xa lìa thì Lửa lạnh lkhí tán, chẳng thành Xá lợi. cho nên mới nói: Thất(7) nhất tư duy, há có thể xem thường sao. Nếu chẳng dùng pháp này thì Xá lợi vạn vô sở kết và cũng không đạt được kết quả Trường sinh.
==pháp Hoa kinh viết: Ngã kim vị như bảo nhiệm thử sư, kinh ất hư dả. Nhử đương cẩn Tâm tinh tấn, hành thử tam muội, Ư thất nhật trung, tư duy như thị sự.
sự ở đây là tên riêng của Thích giáo, là Cân khí của Nho gia.
Chân khí nhở pháp được pháp Phong hỏa mà thành Xá lợi, cho nên gọi: Bất hư. Lại còn ngày đêm không dứt, niệm tư tại tư nên gọi:Cần tâm tinh tấn, muôn điều tư Lự thảy đếu không, một điểm Linh quang chăm chăm Xá lợi, nên nói: Tư duy như thị sự.
Thất nhật là tổng quyết thể Xá lợi, tức Nho gia gọi: Thất nhật, phục kiến Thiên Địa chi tâm.
Lại nói: Thất nhật nhất duơng lai phục.
Còn công phu Thể thủ Chân dược vốn không có kỳ hạn, hoặc 5 ngày, hoặc 7 ngày, không định hạn.
=thế Tôn viết: lục chủng chấn động.
đây là nói cái cảnh Xá lợi sở sản.
Lục chủng là nói về 6 nơi rong thân ta, chẳng phải là 6 nơi của thế giới bên ngoài.
Co mắt có kim quang, lỗ tai có tiếng gío, lỗ mũi có khí rúc, sau não có tiếng chi thứu kêu, toàn thân có dũng Lự dộng, Đơn điền có hỏa châu. Đó là lục củng phát động.
=Hựu viết: mo gian thường phóng Bạch hào quang
đây là lúc Xá lợi thành.
Thường: là nói về ám thất thường thấy bạch hào quang phát hện, hoặc một lần hoặc hai lần, bón lấn . năm lần, nếu thể thủ thì được.
Thích đạo diệu dụng chính là lúc này.
Lúc Xá lợi gần xuất Lư, thì tiừ sơn căm đến đơn điền có một luồng bạch quang, sáng tợ ánh Trăng.
Lúc bấy giờ thì ngoại than tợ như Quy túc.
==thế Tôn viết: Lô nha Xuyên tấc.
Lô nha xuyên tấc là xảo dụ về pháp Quá quan, là xuyên quá Tam quan, là dùng Châ ý dẫn đại dược, vượt qua 3 ải: Vỹ Lư, Giáp Tích,và Ngọc chẩm, rồi Thiên môn, rồi xuống Trung diền và trụ ở đây.
Trong đó có Thiên cơ,phải nhờ Chân sư chỉ truyền, không nen tự dụng. Đây là bí quyết chí yếu của ngàn Phật muôn Tổ, phải nên khẩn thiết cầu sư sau đó mới cóhy vọng.
==đạt ma sư Tổ viết: chiết lô độ giang.
Chiết lô độ giang cũng là ví dụ về pháp quá quan phục thực,phàm tăng không biết cho là Tổ sư bẻ lá lau làm thuyền qua sông để đến Chân núi Lũng sơn. Tổ sư giáng simh nơi nước Thiên Trúc,đã đắc pháp muốn qua đông độ để độ người. rước Tiên gặp Lương Võ để bất thành. Sau gặp Thần Quang mới trao Chân truyền.
Chiết: là Thể thủ. Lô: là Xá lợi.
Độ: là vận hành. Giang: là đạo lộ Nhâm Đốc.
==tế Tôn viết: nhất tiễn xạ thấu cửu trùng Thiết cổ.
Tiễn : Là Đại dược, là Xá lợi/.
Cửu trùng: Thân con người có đường Đốc mạch, đường này có 3 quan: Vỹ Lư, Giáp tích và Ngọc chẩm, mỗi quan ải có ba khiếu, nên gọi cửu trùng, Tiên gia gọi Cửu khúc Minh Châu, Nho gia gọi Cửu Thiên khai hóa.
Quá quan phục thực phải theo con đường này, nếu theo con điường khác thì vạn vô nhất thành,, uổng phí tiền công.
==hựu viết: Thiền diệt vi thực.
Thiền duyệt: là sự vui đẹp ở công phu Thiền định.
Thực: là aăn, là thí dụ đưa Xá lợi quá Tam quan trờ về trung điền nuôin dưỡng 10 tháng.
Con đường phục thực, Tổ sư còn gọi là đuờng Tào khê, khúc khuất nguy hiểm, cần phải đề phòng. trước Tiên có hạ Thước kiều. Trên hết có Thương Thước kiều. Hai thước kiều này là mơi nguy hiểm, nếu chẳng biết phòng nguy Lự hiểm, thì Xá lợi phải bị rơi xuống Thước kiều, tiền công tậnphế.
=hựu viết: Pháp hỉ sung mãn.
Công phu Thiền định đạt đến tột gọi là Pháp hỉ sung mã. Lúc này Chân khí trong người được sung mãn, lần lần không còn muốn ăn,rồi không muốn uống,cũng không muốn ngủ. Là do định Lực thiền công được chuyên chú. Chân khí sung mãn thì Chơn thần dịnh, tự niên chẳng còn ăn uống. Là diều rất vui mừng.
==thế Tôn bản hành kinh viết: nhược khí Hằng hà thủy, Nam ngạn yên ổn, trụ dịnh như Tu di.
Thủy: là nước, là thí dụ Xá lợi.
Nam ngạn: Là nói về trung điền.
Xá lợi đã vềt tRung điền thì Thần với Khí tợ như đa nam châm và sắt hút nhau, hai thàn phàm này không còn lìa nhau như truớc.. Chân khí và Chơn thần đều an trụ nơi Trung điền, không còn vọng trì, an ổn tự tại, Nho gia gọi: Doãn chấp khuyết tRung. Thức tánh lần lần tiêu ma. Chân tánh lần lần linh giác. Chẳng còn vọng niệm.Chánh niệm tự tồn, Hoa nghiêm kinh gọi: Yến tọa tịnh thất.
==lăng nghiêm kinh viết:, hàh dử Phật, đồng thọ Pgha phân, như trung âm thân, tư cầu phụ mẫu, âm tín min thông, nhập Như Lai chủng, dan sinh quý trụ.
Hành: là dụnmg hành nội công, chẳng phải là hành lộ, hành sự mà là tu dưỡng Tánh thai. Xá lợi đã về Trung cung,thì Thần được thọ tiếp Phật khí va đuợc chế phục, nên không còn buông ruỗi ra ngoài. Thần đắc khí mà định Khí đắc Thần mà trụ. Tương thân tương luyến, dung hóa hiệp làm một. Nên gọi: Hành dử Phật, dồng thọ Phật khí.
Phân tánh tức thuộc âm, nên gọi âm thân.Phật khí tức là cha, khí hô hấp tức là mẹ.
Công phu đến đay không còn gọi là khô tịch. Phật khí có cái lý sinh hoạt. Hô hấp có cáo cơ tu dưỡng. Nên cần phảin dủng Chân ý mà cầu lấy sư hoàn bị của hai khí.
Lúc Phật khí sinh, phải khiến cho nó quy nguyên, để trợ Thánh thai viên mãn.Còn cơ hô hấp miên miên là để trợ cơ hóa dục cho Thánh thai. Nên gọi: Tự cầu phụ mẫu. Lại không đuợc chấp nhất mà mê ở nhị.
Công phu đến đây thì có ,một luồng Chân khí từ minh đường lại, rồi quy về Trung cung.Chân ý liền cổ động cơ hch, khiến quy nập vào Châu thân, trục khử toàn bộ âm khí trong châu thân hay cón gõi là huân hóa âm khí trong Châu thân thành duơng khí,và thành Thuần dương Chân khí. 360 đốt xuơng, tám vạn bốn ngàn mao khiếu, thảy ều thông đạt, nên gọi: Aâm tín minh thông.
Lúc này xem như Xác phàm đã được quên, Thánh thai tự còn mộyt mạch Thiên Chân, Phật thể, gọi là Như lai chủng.
Tuy là còn ở rạng thái Đạo thai vô hình, vô tuợng, nhưng định Huệ viên minh, nên gọi Sanh quý trụ.
==thế Tôn viết: Ư dục, Sắc thiên nhị giới, Trung gian hó thất bửu phòng, như Tam thiên , Đại Tiên thế giới, thuyết thậm thâm Phật pháp, Linh pháp cửu trụ.
Dục giới, sắc giới, là danh từ của hai cõi do Thích giáo mệnh danh. Trung Hoa gõi là Trung điền và Hạ điền. Sách chỉ quán gọi: Tây phạn ưu đà na.
Hóa :Thần cơ diệu dụng, là pháp dưỡng Thánh thai.
Hai cõi này hiệp lại thành một cõi hư không.
Nếu Chân ý chấp trụ ở Trung diền, thì Thánh thai sẽ bị trẽnại, chẳng phải là thất bửu phòng.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    Fri Sep 18, 2015 11:11 am

Tam thiên Đai thiên thế giới; lá lúc Xá lợi thành, Chân ý trụ từng nơi Tam điền, mỗi điền dụng một nàn thuyết pháp,. Tục Tăng gọi Tam thiên là quá khư mọt ngàn, hiẹn tại một ngàn , vị lai một ngàn há chẳng ;lầm sao.
Lúnc dưỡng Thánh thai, Chân ý trụ nơi Tring điền có công phu mười thánh nên gọi: Lâm pháp môn cửu tụ. Cũng gọi là Nhât thiên thuyết pháp.
Lúc xuất Thần hiển hóa, Chân ý trụ nơi thương đơn điền , có công phu Tam niên nhủ bộ, cũng gọi là Nhật thiên thuyết pháp.
Thời gian nhập đại định, Chân ý cũng trụ nơi thượng điền có công phu Cửu niên diện bích, cũng gọi là nhất thiên thuyết pháp.
==Hoa Nghiêm kinh viết: Dĩ định phục tâm, cứu cảnh vô dư.
Định: Chẳng phải là ngột tọa khô thiền, ngoan không cưỡng chế mà được định. 5 thiết có cơ Tịnh định tự nhiên.
Xá lợi đã quy về trung cung thì Thức tánh chết, Chân thánh sống, pháp đưlợc vui mừng, Thần được đẹp lòng, Chân an diệu lạc, vô nội vô ngoại, hồn nhiên một khối. Thiền định này phàm tăng không sao sánh kịp.
Thiền định này, lúc hiệu nghiệm thì rực sáng tợ như trăng thu, dunh hoà khắp Châu thân tợ như say khói, Tâm mục nội quán, Xá lợi huân chưn, cả xương thịt như tắm như gội, Tâm và Tánh rổng như Thái hư, đạt đến vô vi và an lạc, lục căn tịnh chiếu, tám thức đều không,ngũ uẩn tuy còn có tuần hoàn, nhưng Chân tánh an nhiên vô dư.
==Thế Tôn viết: Như lý Như lai, Như lý nhi khứ.
Tiết văn trên về sự chứng nghiêm của Xá Lợi.
Tiết này nói về tu pháp lúc mới thành Thánh thai.
Lai và khứ là thí dụ về khí hô hấp, là khải thị cho tusĩ lúc dưõng Thánh thai, phải nương theo hơi thở của mình là Chân tức, sau đó mới được xuất ly trầ đạt đến Tịch diết, nên gọi: Như lý nhi lai, như lý nhi khứ.
Có một Thiền sư nói:
Vị đáo thủy cùng sơn tận xứ.
Thả tương tác bạn quá thời quang.
Con người lúc mới rời khỏi bụng mẹ chỉ dùng khí hô hấp hậu thiên mà sống, cón Tiên thiên Chân khí thì tán phát ra ngoài. cứ như thế mà ngày ngày thường dụng, Đơn điền n không có một Chân tức nào đượcv trọn vẹn. Chỉ như có Thần ngưng mà Chân khí mới tụ, Chân khí tụ đến sung mãng mới thành Xá lợi và khí hô hấp cũng quy vế đây.
Chân khí là nguồn gốc kết nên Thánh thai, cón khí hô hấp cũng là nguồn tư dưỡng Thánh thai.
Tu sĩ cần phải dùnh Chân ý làm chủ tể mà định Chân tức.
Lúc Chân tức chưa địnhy Chân ý để điều.
Chân tức chẳng điều thì chẳng định và không chứng quả.
Lúc mới nhập thai, không thể thiếu pháp điều Chân tức được.
Như lý nhi lai, như lý nhi khứ, cũng là ý nghiã điều Chân tức. Cho nên Phó Đại Sĩ nói:
Lục niên tuyết lãnh vi hà đồ.
Chí dịnh điều òa Khí dử Thần.
Nhất bá khắc trung độ nhất Tức.
Phưong tri đại đạo hiểntam thừa.
==như lai viết:Hữu dư Niết bàn.
Hữu; là có, là có Chân tức.
Lúc mới nhập Thánh thai, Chân ý phải ương theo Chân tức. Cân ý là tâm. Tâm noi theo tức. Tức tuỳ theo Tâm. Chẳng gấp chẳng buông, lóng nghe ở tự nhiên. Lại cũng chẳng nên theo hướng mênh mông trôi nổi. Chẳng biết Chân tức nơi rong là vốn có chaân tức của Thánh thai, mà tợ như không có Chân tức. Chẳng phải quả không có mà tiệt có. Cho nên Kinh kim Cang có giải thích:
Bât trị thùy giải cưỡng an bài.
Niết tụ y nhiên hựu phóng khai.
Mạc vi Như lai thành đoạn diệt.
Nhất thinh hườn tục nhất thinh lkhai.
Niết ; là nắn lại, nắn lại. Gom lại.
Lời nói trên là nói về tâm tức tưong y.
==phạn duong giới kinh viết: Như như nhất đế nhi hành, ư vô sinh không, Nhất thiết Phật hiền Thánh, giai đồng vô sinh hông.
Như như nhất đế nhi hành: Là Tiên hiên khí và hậu Thiên tưng khí tương kiệm tương liêm, là cơ khí nhân khí ôn tư bổ cho Thai nguyên. Chẳng gấp, chẳng buông, thung dung vận hành.
Như ngày nay phàm tămg đả thất tham thiền cũng gọi là nhất đế nhi hành, há chẳng lầm sao.
Cho nên kinh Hoa nghiêm nói: cái đạo của Như lai của Đại Tiên rất vi diệu, khó có thể biết được.
Chính lúc khí hân khí ôn, là hai khí Tien Thiên phát sinh, thì Thần với khí hỗn hợp, thân người tợ như tắm tợ như say, xương với thịt tợ như doanh nghiệp hòa, Chơn thần như đứng giữa hai cõi dục giới và Sắc giới, chẳng thấp chẳng trệ, không không lồng lộng, cho nên nói: vô sanh không.
==thế Tôn viết: Chi không bất không, Như lai tạng.
Tiết trên nói: Vô sinh không, lại sợ người theo đó mà dứt sự kến tri, nên tiết này nóI: không bất không. Sở dĩ không nhi bất không là tịch nhi thường chiếu.
==Nhiên Đăng phật viết: Sanh diệt diệt dĩ.
Sanh diệt diệt dĩ là: Chân tức trong thai chưa tột tịnh dịnh, nhưng còn có cái lý khuất thân ( co duỗi), cho nên nói: sanh diệt phải phải giữ đế tận không, là không còn co, còn duỗi nữa, nên nói: Diệt dĩ. Chỉ biết có thần, mà chẳng biết có khí trong thai, gọi là: vạn pháp quy nhất.
Cái pháp luyện cho tâm được chọn vẹn, phải nương nơi thai mà trụ.còn gọi qui vu pháp, là qui ở đây.
Nếu như chưa có Linh thai, mà thân ý cưỡng Há lợi, hay Thân nguyên khí tụ, và gọi là diệt dĩ, là chứng Đạo, tức là sai quấy vậy.
==kim cang kinh viết: Bồ Tác đản ưng như sở giáo trục.
Bồ Tác tu Phật tâm, tất nên ưng như sở giáo trụ, mà sau mới chứng Phật. Cho nên lời kinh có nói: Bồ Tác muốn tu Phật, thì Tâm phải ứng theo như lời phật đã dạy. Trụ giáo: Tức là Linh thai.
Còn muốn đắc Linh thai và trụ định viên mãn, là trước trụ cái tâm. Trọng yếu của trụ tâm, điều tất yếu là nương Thân tức Tam muội mà tịnh định, thì chằng bị đọa vào lục trần, và chạy theo nẽo mê hoặc.
Được như vậy gọi là Chánh định và thành chánh giác, tức Hoa nghiêm kinh gọi:Sơ thiền niệm thụ, Nhị thiền Tức trụ. Là như vậy.
==Lăng nghiêm kinh viết: Ký qui Đạo thai, thân phụng giác ứng...



sưu tầm
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG    

Về Đầu Trang Go down
 
TU CHÂN ĐỒ GIẢI VÔ GIÁ CỦA THUẬT TU TIÊN ĐÔNG PHƯƠNG
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Giáo trình môn Kỹ Thuật Điện Tử
» (CCS) Ảo giác
» Nước mắt hao anh đào
» Thảo luận bài tập Bảo hiểm hàng hải
» [CCS]Giông Bão

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI . :: Your first category :: CHUYÊN ĐỀ VỀ KHÍ CÔNG ĐÔNG PHƯƠNG :: KHÍ CÔNG ĐẠO GIA :: BÀI VỞ VỀ TINH HOA KHÍ CÔNG ĐẠO GIA .-
Chuyển đến